Giảm nghèo - An sinh

[eMagazine] - "Vốn mồi" cho sinh kế vùng cao

PHAN VINH - TUYẾT TRINH 29/06/2026 11:17

ĐNO - Nghị quyết số 48/2026/NQ-HĐND mở thêm nguồn lực để những sản phẩm bản địa bước ra khỏi lối sản xuất nhỏ lẻ, từng bước hình thành mô hình cộng đồng và chuỗi liên kết. Những sản phẩm vùng cao Đà Nẵng đang được lựa chọn để đặt vào đúng mô hình, tổ chức tốt đầu ra và sử dụng minh bạch từng khoản "vốn mồi".

1.png

Với nguồn nguyên liệu cây đót mọc tự nhiên, người dân xã Hùng Sơn đang nỗ lực học nghề, góp công, lập tổ sản xuất để biến chổi đót thành sinh kế tại chỗ. Mô hình mở ra hướng thu nhập mới cho phụ nữ vùng cao, song để phát triển bền vững, vẫn cần thêm nguồn lực cho kho chứa, thiết bị, kỹ thuật và đầu ra ổn định.

Tổ liên kết phụ nữ làm chổi đốt ở xã Hùng Sơn miệt mài sản xuất. Ảnh: PHAN VINH
Tổ liên kết phụ nữ làm chổi đốt ở xã Hùng Sơn miệt mài sản xuất. Ảnh: PHAN VINH

Liên kết sản xuất

Tại xã Hùng Sơn, cây đót vốn mọc tự nhiên trên các triền núi. Từ lâu, vào mùa, người dân thường thu hái và bán thô cho thương lái. Tuy nhiên, từ tháng 4/2026, nguồn nguyên liệu quen thuộc này đã có hướng đi mới: Dự án cộng đồng "Sinh kế bản địa Việt Nam" được triển khai, tập hợp người dân học nghề, tổ chức sản xuất theo nhóm và đưa sản phẩm ra thị trường.

Người kết nối mô hình là bà Nguyễn Thị Mỹ Sương, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Leaflink, người con của làng nghề chổi đót Thạch Hòa (xã Xuân Phú). Từ tháng 11/2025, bà Sương cùng cộng sự đã lên Hùng Sơn khảo sát nguồn đót, lực lượng lao động và khả năng tổ chức sản xuất.

Sau gần nửa năm chuẩn bị, Hợp tác xã Sinh kế bản địa Việt Nam được thành lập tại thôn Ch’nó (xã Hùng Sơn) đảm nhận vai trò xây dựng vùng nguyên liệu, tập hợp thành viên và điều phối sản xuất. Với sự phối hợp của Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố, hai "Tổ liên kết phụ nữ làm chổi đót" được hình thành tại thôn Aring và thôn Voong (xã Hùng Sơn).

Lễ ra mắt và tập huấn kỹ thuật cho 2
Lễ ra mắt và tập huấn kỹ thuật cho 2 "Tổ liên kết phụ làm chổi đốt" tại các thôn Aring và Voong. Ảnh: PHAN VINH

Đến nay, hợp tác xã có 15 thành viên chính thức cùng với hai tổ hợp tác thu hút hơn 50 người tham gia. Công việc được chia theo nhóm nhỏ để người mới học nghề dễ theo kịp kỹ thuật. Ước tính, các tổ hợp tác hoạt động ổn định có thể sản xuất gần 5.000 cây chổi mỗi tháng, giúp mỗi thành viên tăng thêm khoảng 3 - 4,5 triệu đồng. Với nhiều phụ nữ Cơ Tu, khoản thu này đặc biệt ý nghĩa, vì họ có thể làm việc ngay tại thôn, tranh thủ sau giờ rẫy và việc nhà.

Bà Alăng Thị Nhút, thành viên Hợp tác xã Sinh kế bản địa Việt Nam ở thôn Ch’nóc kể rằng, trước đây, thu nhập gia đình chủ yếu dựa vào nương rẫy và đi rừng lượm mây, hái đót bán nguyên liệu thô. Từ khi tham gia hợp tác xã, bà có việc làm đều đặn, thu nhập gần 4 triệu đồng mỗi tháng.

Chân dung bà Alăng Thị Nhú

Đảm bảo đầu ra

Theo bà Nguyễn Thị Mỹ Sương, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Leaflink, đót ở khu vực Tây Giang cũ có bông dài, độ bền tốt, phù hợp làm chổi gia dụng. Vướng mắc lớn nhất hiện nay là nguyên liệu còn khai thác phân tán, chưa có kho dự trữ, và mùa mưa khiến khâu phơi, bảo quản bị động.

Bên cạnh đó, do người dân mới tiếp cận nghề nên chất lượng sản phẩm chưa thật đồng đều giữa các nhóm. Vì vậy, hợp tác xã gom nguyên liệu, điều phối tổ sản xuất, doanh nghiệp hoàn thiện mẫu mã, xây dựng thương hiệu và tìm đầu ra ổn định.

"Chúng tôi mong muốn có một khoản vốn mồi đủ đúng chỗ để làm kho chứa, khu sản xuất chung, mua thêm thiết bị hoàn thiện, thu hút nhân sự chất lượng cao về tập huấn kỹ thuật, chuẩn hóa sản phẩm và kết nối tiêu thụ.

Muốn tạo việc làm ổn định cho nhiều phụ nữ vùng cao Hùng Sơn, phải có không gian sản xuất, quy trình kiểm soát chất lượng và thị trường được chăm sóc thường xuyên", bà Sương cho biết.

Nguyên liệu sản xuất chổi đốt được khai thác từ nguồn tài nguyên bản địa. Ảnh: PHAN VINH
Nguyên liệu sản xuất chổi đốt được khai thác từ nguồn tài nguyên bản địa. Ảnh: PHAN VINH

Ông Nguyễn Văn Kỳ, Phó Chủ tịch UBND xã Hùng Sơn cho biết, từ khi vận hành chính quyền hai cấp, UBND xã tập trung rà soát tiềm năng, lợi thế địa phương; chỉ đạo xây dựng kế hoạch phát triển sản phẩm OCOP, vùng nguyên liệu tập trung và mô hình liên kết sản xuất gắn với thị trường.

Trong chương trình thúc đẩy phụ nữ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố làm việc với địa phương, hỗ trợ ra mắt mô hình "Tổ liên kết phụ nữ làm chổi đót" và tập huấn kỹ thuật cho hội viên.

"Mô hình này phù hợp với vùng nguyên liệu tại chỗ và sự cần cù của phụ nữ đồng bào Cơ Tu. Chúng tôi kỳ vọng đây sẽ là sinh kế thiết thực, tạo việc làm, nâng thu nhập cho hội viên phụ nữ, đồng thời là tiền đề hình thành các tổ chức kinh tế tập thể trên địa bàn. Thời gian tới, UBND xã sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan liên quan hỗ trợ nguồn vốn, xây dựng thương hiệu, giúp mô hình phát triển ổn định hơn cho người dân", ông Kỳ khẳng định.

[VIDEO] - Đại diện Hợp tác xã Sinh kế bản địa Việt Nam chia sẻ về nguyện vọng được hỗ trợ vốn để phát triển mô hình:

2.png

Từ những vùng nguyên liệu miền núi, các hợp tác xã và doanh nghiệp đang tìm cách tổ chức lại sản xuất, kết nối người dân vào chuỗi giá trị thay vì chỉ bán thô theo mùa. Hướng đi này mở ra cơ hội nâng thu nhập tại chỗ, nhưng để bền vững vẫn cần nguồn lực đủ mạnh cho hạ tầng, kỹ thuật, tiêu chuẩn và thị trường.

Sản phẩm làm từ cây quế được trưng bày tại Resoft Furama Đà Nẵng. Ảnh: PHAN VINH
Sản phẩm làm từ cây quế được trưng bày tại Resoft Furama Đà Nẵng. Ảnh: PHAN VINH

Nâng cao giá trị lâm sản

Tại xã Trà Vân, cây quế có mặt trong vườn nhà, trên triền đồi và trong sinh kế của nhiều thế hệ. Vào mùa, người dân bóc vỏ, phơi, gom thành bao rồi bán cho thương lái. Tuy nhiên, các công đoạn sau đó - từ sơ chế, phối trộn, đóng gói, đặt tên sản phẩm đến tìm khách hàng - thường diễn ra ở nơi khác. Khoảng cách giữa rừng quế và thị trường trở nên quá xa, không chỉ do cung đường vận chuyển mà còn do cách tổ chức vùng nguyên liệu và quy trình chưa cho phép người dân tham gia sâu hơn vào các khâu tạo giá trị gia tăng.

Những năm qua, Hợp tác xã Quế và Dược liệu Trà Vân đang nỗ lực rút ngắn khoảng cách ấy bằng việc kết hợp quế với bạc hà, sả, chè xanh để làm trà thảo dược. Dù quy mô hiện còn nhỏ, nhưng đã tạo việc làm thường xuyên cho 6 lao động người đồng bào dân tộc thiểu số và liên kết gián tiếp với 72 hộ dân. Sản phẩm từ Trà Vân bắt đầu xuất hiện trên kệ hàng lưu niệm tại các khu du lịch, nhà hàng, resort...

Bà Hoàng Thị Hồng Nhung, thành viên Hợp tác xã Quế và Dược liệu Trà Vân, phụ trách bán sản phẩm tại khu du lịch Ngũ Hành Sơn (phường Ngũ Hành Sơn) chia sẻ, công việc mới giúp bà có thu nhập gần 10 triệu đồng mỗi tháng - một mức đáng kể với người dân vùng cao.

Gian hàng của Hợp tác xã Quế và Dược liệu Trà Vân tại khu du lịch Ngũ Hành Sơn thu hút du khách đến tham quan, mua sắm. Ảnh: PHAN VINH
Gian hàng của Hợp tác xã Quế và Dược liệu Trà Vân tại khu du lịch Ngũ Hành Sơn thu hút du khách đến tham quan, mua sắm. Ảnh: PHAN VINH

"Tôi tự hào vì được giới thiệu sản phẩm của bà con Trà Vân đến với du khách. Nhiều du khách ban đầu chỉ hỏi thử, nhưng khi nghe nguyên liệu được trồng ở miền núi, hợp tác xã tự làm và có câu chuyện rõ ràng, họ quan tâm hơn. Với tôi, bán một gói trà cũng là cách để người ngoài biết đến vùng quế quê mình", bà Nhung chia sẻ.

Ông Trần Viết Hùng, Giám đốc Công ty CP Quế Trà My nhìn nhận, ở khu vực miền núi Đà Nẵng, cây quế được trồng phân tán, người dân khai thác theo kinh nghiệm và bán khi cần tiền, khiến doanh nghiệp khó xác định mỗi năm có bao nhiêu nguyên liệu đạt chuẩn, thu hoạch vào thời điểm nào, tập kết bằng cách nào.

ong Hung

"Vốn mồi" cần đặt đúng mắt xích

Cũng theo ông Hùng, tình trạng thiếu sản lượng ổn định khiến doanh nghiệp khó ký hợp đồng dài hạn, trong khi người trồng tiếp tục phụ thuộc vào giá mua từng thời điểm. Một nhà máy muốn vận hành phải biết cây đã đến tuổi khai thác chưa, chất lượng thế nào, ai chịu trách nhiệm tập hợp nguyên liệu và hợp tác xã có đủ năng lực điều phối các hộ dân theo cùng quy trình hay không.

Từ thực tế này, Công ty CP Quế Trà My dự kiến trong năm 2026 liên kết với các hợp tác xã tại Trà Vân và Trà Đốc để hình thành một hệ sinh thái sản phẩm dựa trên lợi thế vùng quế.

Theo hướng này, Hợp tác xã Trà Đốc định hướng phát triển bánh quế Trà My, chả cá từ nguồn cá lòng hồ Sông Tranh và đũa quế dùng một lần để xuất khẩu. Hợp tác xã Thực phẩm Hạnh Phúc ở Trà Vân xây dựng mô hình nuôi gà, heo dưới tán rừng quế theo hướng tuần hoàn, cung cấp trứng, thịt cho chuỗi nhà hàng, khu nghỉ dưỡng.

"Hợp tác xã Quế và Dược liệu Trà Vân đảm nhận nhóm trà thảo dược, còn Công ty CP Quế Trà My giữ vai trò hoàn thiện tiêu chuẩn, thương mại và xuất khẩu. Kế hoạch hướng đến tạo việc làm trực tiếp cho 150 lao động, liên kết gián tiếp với 800 hộ trồng quế, song đây mới là mục tiêu đặt ra", ông Hùng cho biết.

Sản lượng quế thành phẩm của vùng cao Đà Nẵng vẫn còn ở mức thấp khiến doanh nghiệp khó phát triển thị trường. Ảnh: PHAN VINH
Sản lượng quế thành phẩm của vùng cao Đà Nẵng vẫn còn ở mức thấp khiến doanh nghiệp khó phát triển thị trường. Ảnh: PHAN VINH

Ông Phan Duy Hưng, Chủ tịch UBND xã Trà Đốc cho biết, trong kế hoạch thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số năm 2026, địa phương đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 10,84%, thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 36,8 triệu đồng, giảm 150 hộ nghèo, đào tạo nghề cho 190 lao động và tạo việc làm, thu nhập ổn định cho 75 lao động.

Để đi đến các chỉ tiêu này, xã đang rà soát những mô hình có khả năng tạo sinh kế tại chỗ, trong đó tập trung vào phát triển cây quế; nuôi cá lồng bè ở lòng hồ thủy điện Sông Tranh; trồng rừng đầu nguồn bằng rừng gỗ lớn; trồng tre lấy măng; chăn nuôi heo đen bản địa; và một số hướng chế biến từ nguyên liệu địa phương.

Trà Đốc mở rộng lĩnh vực kinh tế với mô hình nuôi và sản xuất các sản phẩm thương mại từ cá lồng bè. Ảnh: PHAN VINH
Trà Đốc mở rộng lĩnh vực kinh tế với mô hình nuôi và sản xuất các sản phẩm thương mại từ cá lồng bè. Ảnh: PHAN VINH

Theo ông Hưng, Nghị quyết số 48/2026/NQ-HĐND mở ra nguồn lực lớn đối với vùng cao, nhất là khi mức hỗ trợ có thể đạt tối đa 1 tỷ đồng cho một dự án sản xuất theo chuỗi giá trị và 5 tỷ đồng cho một dự án liên kết chuỗi giá trị. Với Trà Đốc, khoản "vốn mồi" này có ý nghĩa thiết thực nếu được đặt vào những mô hình đã có nền nguyên liệu, có người dân tham gia, có khả năng tổ chức thành nhóm sản xuất và từng bước kết nối doanh nghiệp.

"Địa phương đánh giá rất cao Nghị quyết 48, bởi mức hỗ trợ đủ lớn để tạo động lực cho những mô hình vùng cao. Trà Đốc đang rà soát kỹ từng hướng, từ quế, cá lồng bè, heo đen bản địa đến tre, rừng gỗ lớn, để lựa chọn mô hình thật sự có khả năng đưa vào hạng mục ưu tiên, tránh làm dàn trải, làm theo phong trào", ông Hưng nói.

[VIDEO] - Lãnh đạo xã Trà Đốc chia sẻ về định hướng triển khai Nghị quyết 48 tại địa phương:

3.png

Nghị quyết số 48/2026/NQ-HĐND mở thêm nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đặt các xã trước yêu cầu lựa chọn đúng mô hình, để mỗi khoản hỗ trợ trở thành động lực phát triển và tránh tình trạng đầu tư dàn trải ở cơ sở.

Chọn từ cơ sở

Sau khi Nghị quyết số 48 được ban hành, xã Trà Leng rà soát những phần việc có thể triển khai sớm. Trong dự thảo kế hoạch thực hiện nghị quyết, địa phương nhìn thẳng vào những điểm nghẽn kéo dài như hơn 600 hộ dân chưa được sử dụng điện lưới, một số thôn còn lõm sóng viễn thông. Trong khi đó, nhu cầu nước sạch, vệ sinh môi trường, xử lý rác thải sinh hoạt và đường kết nối đến các thôn vẫn rất lớn.

Ông Nguyễn Hải Đồng, Phó Chủ tịch UBND xã Trà Leng cho rằng, Nghị quyết 48 là cơ chế có tính đột phá trong nhiều năm qua đối với vùng cao Đà Nẵng nói chung và Trà Leng nói riêng, bởi nhiều chính sách chạm đúng nhu cầu của cơ sở.

ONG DONG

Theo ông Đồng, UBND xã Trà Leng đã xây dựng dự thảo kế hoạch thực hiện Nghị quyết 48, gửi HĐND xã và các phòng, ban nghiên cứu góp ý. Trong các hướng sinh kế, cây quế được đặt nhiều kỳ vọng. Trước đây quế chủ yếu trồng nhỏ lẻ, bán thô, nay địa phương muốn tổ chức vùng nguyên liệu quy mô hơn, từng bước chuyển một phần diện tích keo sang quế với tỷ lệ khoảng 30 - 50%. Riêng năm 2026 này đã có khoảng 11 hộ đăng ký chuyển đổi gần 14ha keo sang trồng quế.

Trà Leng nỗ lực phát triển kinh tế địa phương từ hệ sinh thái xung quanh cây quế. Ảnh: PHAN VINH
Trà Leng nỗ lực phát triển kinh tế địa phương từ hệ sinh thái xung quanh cây quế. Ảnh: PHAN VINH

Xã cũng đang vận động thành lập Hợp tác xã Quế Trà Leng, kết nối với làng mộc Kim Bồng, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng và doanh nghiệp xuất khẩu để nghiên cứu sản phẩm. Vừa qua, địa phương đã kết nối các hợp tác xã với Liên minh Hợp tác xã thành phố để tiếp cận nguồn vay ưu đãi khoảng 500 triệu đồng/đơn vị, tiến tới thành lập các tổ hợp tác trên địa bàn.

Gom đúng nguồn lực

Ông Dương Minh Anh, Phó Chủ tịch UBND xã Trà Liên cho rằng, Nghị quyết số 48/2026/NQ-HĐND đang tiếp nối các chương trình mục tiêu quốc gia trước đây đã tạo chuyển biến rõ trong đời sống người dân. Khi các chính sách được tích hợp trong nghị quyết này, địa phương xem đây là cơ hội để gom nguồn lực, hạn chế dàn trải và lựa chọn những việc có khả năng tạo tác động dài hơn.

UBND xã Trà Liên tiếp cận nội dung nghị quyết, khảo sát mô hình phù hợp và thành lập Ban Chỉ đạo riêng để tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia. Địa phương đang rà soát nhu cầu ở từng thôn, từng nhóm hộ, từng mô hình sản xuất, xác định hạ tầng thiết yếu, sinh kế, mô hình cần doanh nghiệp hoặc hợp tác xã cùng tham gia.

ONG ANH

Một hướng khác được địa phương quan tâm là bảo tồn bản sắc văn hóa gắn với du lịch cộng đồng. Với mức hỗ trợ tối đa 50 triệu đồng cho một mô hình, Nghị quyết 48 có thể tạo thêm động lực để người dân cải tạo không gian đón khách, phục dựng sinh hoạt văn hóa và khai thác cảnh quan Dội Bà Bình ở thôn Tak Ngó, Sông Trót ở thôn Tak Kót, Sông Tiên ở thôn Tak Ngươi.

[VIDEO] - Lãnh đạo các địa phương bày tỏ kỳ vọng về Nghị quyết 48:

Trong lĩnh vực sản xuất, Trà Liên đang rà soát các mô hình có thể tiếp cận mức hỗ trợ lớn hơn, như dự án liên kết chuỗi đối với hợp tác xã tối đa 5 tỷ đồng, dự án cộng đồng tối đa 3 tỷ đồng. Mô hình nuôi cầy hương hiện có 3 hộ nuôi quy mô khá. Ba sản phẩm OCOP gồm gạo đỏ Ra Ma, muối rầng rây, trà túi lọc khổ qua rừng hương quế vẫn cần thêm vốn để nâng chất lượng, truy xuất và mở rộng thị trường. Trồng rừng gỗ lớn thay thế dần cây keo cũng là hướng được xã chú trọng.

"Tôi kỳ vọng Nghị quyết 48 sẽ giúp Trà Liên có thêm điều kiện để tháo gỡ hạ tầng, chọn đúng mô hình, huy động người dân tham gia và giám sát nguồn vốn minh bạch, từ đó tạo sức bật mới thay đổi nông thôn vùng cao nơi đây", ông Dương Minh Anh nói.

box ong Tuan Anh

Thực hiện: PHAN VINH
Đồ họa: TUYẾT TRINH

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
[eMagazine] - "Vốn mồi" cho sinh kế vùng cao
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO