Giá vàng hôm nay 10/11/2025 lúc 09h30, vàng thế giới tăng mạnh lên mốc 4.043,1 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng SJC hiện giao dịch ở mức 149,6 triệu đồng/lượng; vàng nhẫn SJC ở mức 147,2 triệu đồng/lượng.
Tính đến thời điểm 04h00 ngày 10/11/2025, giá vàng miếng SJC hôm nay tại Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng ghi nhận giá vàng ở mức 147,6 triệu đồng/lượng cho chiều mua vào và 149,6 triệu đồng/lượng chiều bán ra, tăng 1,2 triệu đồng/lượng so với phiên trước.
Tập đoàn DOJI cũng không nằm ngoài xu hướng chung khi điều chỉnh giá vàng hôm nay 10/11/2025 lên mức tương tự SJC, với giá mua vào và bán ra lần lượt là 147,6 triệu đồng/lượng và 149,6 triệu đồng/lượng, tăng 1,2 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều.
Mi Hồng có bước tăng đáng chú ý khi giá mua vào tăng 1 triệu đồng/lượng lên 147,2 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán ra được điều chỉnh lên 149,6 triệu đồng/lượng, tăng 1,2 triệu đồng/lượng so với ngày hôm trước.
PNJ cũng điều chỉnh giá vàng hôm nay 10/11/2025 lên 147,6 triệu đồng/lượng mua vào và 149,6 triệu đồng/lượng bán ra, tăng 1,2 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều so với phiên trước đó.
Tại ACB, có giá bán ra của vàng hôm nay 10/11/2025 được niêm yết ở mức 149,6 triệu đồng/lượng, tăng 1,2 triệu đồng/lượng so với trước.
Giá vàng Bảo Tín Minh Châu, ghi nhận mức tăng ấn tượng khi giá mua vào được nâng lên 148,1 triệu đồng/lượng, tăng 1,2 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán ra giữ ở mức 149,6 triệu đồng/lượng, cũng tăng tương ứng.
Cuối cùng, Phú Quý là thương hiệu có giá mua vào thấp nhất trong nhóm nhưng vẫn tăng 1,2 triệu đồng/lượng lên 146,6 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán ra duy trì ở mức 149,6 triệu đồng/lượng, tăng tương tự.
Cùng thời điểm vào lúc 09h30 ngày 10/11/2025, giá vàng nhẫn 9999 Hưng Thịnh Vượng của DOJI được niêm yết ở mức 146,0 triệu đồng/lượng (mua) và 149,0 triệu đồng/lượng (bán), tăng 1 triệu đồng/lượng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với ngày trước, với mức chênh lệch mua - bán là 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng nhẫn trơn của Bảo Tín Minh Châu giữ ở mức 146,8 triệu đồng/lượng (mua) và 149,8 triệu đồng/lượng (bán), tăng 1 triệu đồng/lượng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với đầu giờ sáng, với chênh lệch 3 triệu đồng/lượng.
Tập đoàn Phú Quý cũng niêm yết giá vàng nhẫn ở mức 146,6 triệu đồng/lượng (mua) và 149,6 triệu đồng/lượng (bán), tăng thêm 1,2 triệu đồng/lượng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với ngày hôm qua, với mức chênh lệch mua - bán là 3 triệu đồng/lượng.

Tính đến thời điểm 04h00 ngày 10/11/2025, giá vàng miếng SJC hôm nay tại Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng ghi nhận giá mua vào ở mức 146,4 triệu đồng/lượng và giá bán ra 148,4 triệu đồng/lượng.
Tập đoàn DOJI công bố giá vàng SJC mua vào và bán ra lần lượt ở mức 146,4 triệu đồng/lượng và 148,4 triệu đồng/lượng.
Mi Hồng niêm yết giá vàng miếng SJC chiều mua vào 147 triệu đồng/lượng và giá vàng SJC bán ra 148,4 triệu đồng/lượng.
PNJ cũng giữ giá vàng mua vào ở 146,9 triệu đồng/lượng và giá bán ra 148,4 triệu đồng/lượng.
Tại ACB, giá vàng SJC bán ra vẫn được niêm yết ở mức 148,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng Bảo Tín Minh Châu, có giá mua vào 146,9 triệu đồng/lượng và bán ra 148,4 triệu đồng/lượng.
Cuối cùng, Phú Quý niêm yết giá vàng miếng SJC chiều mua vào vẫn ở mức 146,4 triệu đồng/lượng và giá bán ra giữ nguyên 148,4 triệu đồng/lượng.
Cùng thời điểm vào lúc 04h00 ngày 10/11/2025, giá vàng nhẫn 9999 Hưng Thịnh Vượng của DOJI được niêm yết ở mức 144,5 triệu đồng/lượng (mua) và 147,5 triệu đồng/lượng (bán), đang không có biến động mới ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với ngày trước, với mức chênh lệch mua - bán là 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng nhẫn trơn của Bảo Tín Minh Châu giữ ở mức 145,8 triệu đồng/lượng (mua) và 148,8 triệu đồng/lượng (bán), hiện vẫn đi ngang ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với đầu giờ sáng, với chênh lệch 3 triệu đồng/lượng.
Tập đoàn Phú Quý cũng niêm yết giá vàng nhẫn ở mức 145,4 triệu đồng/lượng (mua) và 148,4 triệu đồng/lượng (bán), không ghi nhận thay đổi mới ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với ngày hôm qua, với mức chênh lệch mua - bán là 3 triệu đồng/lượng.
| Giá vàng hôm nay | Ngày 10/11/2025 (Triệu đồng) | Chênh lệch (nghìn đồng/lượng) | ||
| Mua vào | Bán ra | Mua vào | Bán ra | |
| SJC | 147,6 | 149,6 | +1200 | +1200 |
| Tập đoàn DOJI | 147,6 | 149,6 | +1200 | +1200 |
| Mi Hồng | 147,2 | 149,6 | +1000 | +1200 |
| PNJ | 147,6 | 149,6 | +1200 | +1200 |
| ACB | 149,6 | +1200 | ||
| Bảo Tín Minh Châu | 148,1 | 149,6 | +1200 | +1200 |
| Phú Quý | 146,6 | 149,6 | +1200 | +1200 |
| 1. DOJI - Cập nhật: 10/11/2025 09:30 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| AVPL/SJC HN | 147.600 ▲1200K | 149.600 ▲1200K |
| AVPL/SJC HCM | 147.600 ▲1200K | 149.600 ▲1200K |
| AVPL/SJC ĐN | 147.600 ▲1200K | 149.600 ▲1200K |
| Nguyên liệu 9999 - HN | 140.600 ▲1800K | 142.600 ▲1800K |
| Nguyên liệu 999 - HN | 140.400 ▲1800K | 142.400 ▲1800K |
| 2. PNJ - Cập nhật: 10/11/2025 09:30 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Khu vực | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| TPHCM - PNJ | 147.600 ▲1200K | 149.600 ▲1200K |
| Hà Nội - PNJ | 147.600 ▲1200K | 149.600 ▲1200K |
| Đà Nẵng - PNJ | 147.600 ▲1200K | 149.600 ▲1200K |
| Miền Tây - PNJ | 147.600 ▲1200K | 149.600 ▲1200K |
| Tây Nguyên - PNJ | 147.600 ▲1200K | 149.600 ▲1200K |
| Đông Nam Bộ - PNJ | 147.600 ▲1200K | 149.600 ▲1200K |
| 3. AJC - Cập nhật: 10/11/2025 09:30 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Miếng SJC Hà Nội | 14,640 - | 14,840 - |
| Miếng SJC Nghệ An | 14,640 - | 14,840 - |
| Miếng SJC Thái Bình | 14,640 - | 14,840 - |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội | 14,540 - | 14,840 - |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An | 14,540 - | 14,840 - |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình | 14,540 - | 14,840 - |
| NL 99.99 | 13,870 - | - |
| Nhẫn tròn ko ép vỉ T.Bình | 13,870 - | - |
| Trang sức 99.9 | 14,130 - | 14,730 - |
| Trang sức 99.99 | 14,140 - | 14,740 - |
| 4. SJC - Cập nhật: 10/11/2025 09:30 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 147.600 ▲1200K | 149.600 ▲1200K |
| Vàng SJC 5 chỉ | 147.600 ▲1200K | 149.620 ▲1200K |
| Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ | 147.600 ▲1200K | 149.630 ▲1200K |
| Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ | 144.700 ▲1400K | 147.200 ▲1400K |
| Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ | 144.700 ▲1400K | 147.300 ▲1400K |
| Nữ trang 99,99% | 143.200 ▲1400K | 146.200 ▲1400K |
| Nữ trang 99% | 140.252 ▲1386K | 144.752 ▲1386K |
| Nữ trang 68% | 92.075 ▲952K | 99.575 ▲952K |
| Nữ trang 41,7% | 53.621 ▲583K | 61.621 ▲583K |
Biểu đồ được tính đến lúc 09h30 ngày 10/11/2025 (triệu đồng/lượng):
.jpeg)
Tính đến 09h30 ngày 10/11/2025 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay mức 4.043,1 USD/ounce. Giá vàng hôm nay ghi nhận tăng 43,5 USD/ounce so với ngày hôm qua. Quy đổi theo tỷ giá USD tại ngân hàng Vietcombank (26.361 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 132,83 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). So sánh với giá vàng miếng SJC trong nước cùng ngày (147,6-149,6 triệu đồng/lượng), giá vàng SJC hiện cao hơn giá vàng quốc tế khoảng 16,77 triệu.
.jpg)
Theo Kitco News, bất chấp những tín hiệu kinh tế trái chiều, giới phân tích nhận định thị trường lao động Mỹ đang chậm lại rõ rệt, mở ra khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ cắt giảm lãi suất ngay trong tháng tới. Diễn biến này được dự báo sẽ tạo lực đỡ quan trọng cho giá vàng trong giai đoạn cuối năm 2025.
Neil Welsh, Trưởng bộ phận Kim loại tại Britannia Global Markets, cho rằng việc giá vàng ổn định quanh mốc 4.000 USD/ounce phản ánh sự giằng co giữa các yếu tố cơ bản:
Hoạt động mua vào mạnh mẽ của các ngân hàng trung ương,
Nhu cầu trú ẩn an toàn trước bất ổn địa chính trị,
Áp lực kỹ thuật từ hoạt động chốt lời,
Sức mạnh của đồng USD.
Theo ông Welsh, “cuộc họp sắp tới của Fed là tâm điểm chú ý. Thị trường đang chờ đợi tín hiệu rõ ràng về lộ trình cắt giảm lãi suất. Mọi quyết định đều có thể khiến giá vàng vượt ngưỡng 4.000 USD/ounce hoặc bị kìm hãm nếu Fed tỏ ra thận trọng hơn.”
Điều này cho thấy, chính sách tiền tệ Mỹ vẫn là nhân tố chi phối xu hướng giá vàng toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế đang đối mặt với rủi ro suy giảm nhẹ.
Ở góc nhìn bi quan hơn, Alex Kuptsikevich, Chuyên gia phân tích thị trường trưởng tại FxPro, cảnh báo rằng “thiệt hại sau hai tuần bán tháo chưa thể xóa nhòa ngay.”
Ông nhận định:
“Xu hướng tăng đã bị phá vỡ, giá vàng dù duy trì quanh mốc 4.000 USD trong hơn 10 ngày nhưng vẫn chưa lấy lại động lực. Nỗ lực của phe bán nhằm kéo giá xuống dưới 3.900 USD/ounce đang gặp lực mua mạnh mẽ từ thị trường, đặc biệt khi các yếu tố pháp lý và thương mại ở Mỹ vẫn chưa ngã ngũ.”
Cụ thể, Tòa án Tối cao Mỹ đang xem xét tính hợp pháp của một số chính sách thuế quan, có thể ảnh hưởng trực tiếp đến dòng vốn và tâm lý rủi ro của nhà đầu tư.
Trong khi đó, nhiều tổ chức tài chính lớn như HSBC, Bank of America và Société Générale vẫn duy trì dự báo giá vàng có thể đạt 5.000 USD/ounce trong chu kỳ tới, nhưng họ cũng cảnh báo về áp lực chốt lời mạnh khi giá tăng.
Theo đó, giao dịch vàng ngắn hạn sẽ phụ thuộc vào các vùng hỗ trợ kỹ thuật, trong khi xu hướng trung hạn vẫn duy trì tích cực nhờ nhu cầu mua vào của khối ngân hàng trung ương.
Thứ Ba (11/11): Báo cáo thị trường lao động Anh.
Thứ Năm (13/11):
Mỹ: Dữ liệu lạm phát (CPI) tháng 10 (quan trọng nhất tuần).
Anh: Ước tính sơ bộ GDP quý 3.
Trung Quốc: Doanh số bán lẻ và Sản xuất công nghiệp tháng 10.
Thứ Sáu (14/11):
Mỹ: Doanh số bán lẻ và Chỉ số giá sản xuất (PPI) tháng 10.
Khu vực đồng Euro: Ước tính cuối cùng GDP quý 3.