ĐNCT - Sau 5 năm triển khai Dự án 8, Đà Nẵng đã tạo dựng nhiều mô hình thúc đẩy bình đẳng giới, bảo vệ phụ nữ và trẻ em vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.

Từ đây, một số thói quen tốt đã bắt đầu bén rễ, song để phong trào trở thành sức mạnh nội sinh trong cộng đồng vẫn cần những bước đi bền vững hơn.
Trước cuộc họp giao ban Cụm thi đua số 9 chừng một tuần, chị Zơ Râm Thị Hải, thành viên Tổ truyền thông cộng đồng thôn Đhrôồng, xã Đông Giang đi một vòng quanh thôn nắm tình hình hoạt động của mô hình thúc đẩy bình đẳng giới. Ngoài mục đích chuẩn bị nội dung báo cáo, chị muốn xem sau những buổi tuyên truyền, những câu chuyện về bình đẳng giới đã giúp được gì cho bà con.
Thôn Đhrôồng nằm giữa núi rừng Đông Giang, nơi sinh sống của hàng trăm hộ dân. Trong những ngôi nhà gỗ nép bên đường, nếp sinh hoạt quen thuộc của bà con Cơ Tu diễn ra chậm rãi.
Ghé qua từng nhà, chị Hải nghe chuyện con cái, chuyện làm ăn, chuyện trong gia đình. Những câu chuyện tưởng chừng chẳng liên quan đến các hoạt động mang tên Dự án 8, nhưng phần nào giúp chị Hải nhận ra nếp nghĩ của bà con đang dần thay đổi.
Chị Hải kể, ngày trước, chuyện làng là chuyện của đàn ông. Việc lớn trong gia đình cũng thường do người chồng quyết định. Chuyện học hành của con cái, nhất là con gái, đôi khi phải cân nhắc vì nhà còn thiếu người làm.
Muốn vận động bà con thay đổi, không thể nói một lần là xong. Thành viên tổ truyền thông phải đi, gặp và nói đi nói lại. Có chuyện hôm nay nói chưa nghe, hôm khác lại nhắc. Có gia đình phải đến vài lần mới hiểu.
Mới đây, ngay trước thềm khai giảng, nghe tin có gia đình trong thôn không muốn cho con gái đi học, thành viên tổ phải đến vận động, rằng đó là quyền, là cơ hội để con được học hành, có thêm lựa chọn cho tương lai. “Điều thuận lợi là những người làm truyền thông đều ở ngay trong cộng đồng. Chúng tôi biết nhà nào có con nhỏ, biết gia đình nào đang gặp khó khăn, biết ai là người có uy tín để cùng vận động”, chị Hải nói.
Sau 5 năm, 200 Tổ truyền thông cộng đồng được duy trì tại 200 thôn với 1.614 thành viên. Tham gia Dự án 8 từ những ngày đầu, chị Trần Thị Thúy Hà, Phó trưởng Ban Công tác phụ nữ thành phố có dịp đi nhiều địa bàn miền núi, gặp gỡ nhiều phụ nữ, trẻ em Cơ Tu, Xơ Đăng, Giẻ Triêng…
Mỗi nơi một hoàn cảnh, một phong tục, một câu chuyện, nhưng theo chị, điểm chung dễ nhận thấy là khi người dân được nghe, trao đổi và trực tiếp tham gia, những thay đổi sẽ đến tự nhiên hơn. “Muốn bà con hiểu thì phải nói từ những chuyện trong gia đình, chuyện nuôi con, chuyện vợ chồng cùng làm việc, cùng quyết định. Mình nói sao để bà con thấy đó là việc của chính mình chứ không phải một nội dung của dự án”, chị Hà chia sẻ.
Có lần xuống cơ sở, chị Hà được cán bộ địa phương kể về một phụ nữ sau nhiều buổi sinh hoạt đã mạnh dạn hơn trong việc tham gia họp thôn. Trước đây, chị ấy thường ngồi phía sau, ít nói, nghe nhiều hơn là phát biểu. Sau một thời gian tham gia các hoạt động, chị bắt đầu đứng lên nói ý kiến của mình.
Một thay đổi nhỏ, nhưng với những người làm Dự án 8 như chị Hà, đó là tín hiệu đáng mừng. Bởi mục tiêu cuối cùng của những buổi truyền thông là phụ nữ sống giữa bản làng nằm sâu trong núi có dám thay đổi một hành vi, một cách nghĩ vốn đã quen thuộc hay không.
Ở Dự án 8, nếu truyền thông giúp phụ nữ thay đổi cách nghĩ, thì sinh kế và quyền năng kinh tế giúp họ có thêm điều kiện để biến cách nghĩ ấy thành những lựa chọn cụ thể trong cuộc sống.
Bà Nguyễn Thị Huyền, Phó Chủ tịch Hội LHPN thành phố Đà Nẵng cho rằng, ở góc độ trao quyền, việc giúp phụ nữ có tiếng nói trong gia đình và cộng đồng là cần thiết, nhưng chưa đủ. Một người phụ nữ muốn chủ động hơn trong cuộc sống còn cần có kiến thức, sinh kế, thu nhập và khả năng tự quyết định đối với công việc của mình.
Đây cũng là lý do những mô hình kinh tế tập thể do phụ nữ làm chủ cần được nhìn như một phần của câu chuyện bình đẳng giới ở khu vực miền núi. Khi phụ nữ có thể tạo ra sản phẩm, tổ chức sản xuất, quản lý nguồn lực và tham gia quyết định hướng đi của mô hình kinh tế, vị thế của họ trong gia đình và cộng đồng cũng có thêm một điểm tựa.
Thực tế tại các xã miền núi Đà Nẵng cho thấy nhiều hợp tác xã (HTX), tổ hợp tác (THT) do phụ nữ làm chủ đang từng bước đi theo hướng xanh, bền vững. Điểm chung của THT dệt vải thổ cẩm ARéh Đhrôồng hay HTX Cau xanh đất Quảng là tận dụng nguồn nguyên liệu tự nhiên, làng nghề truyền thống, văn hóa bản địa để xây dựng thương hiệu và tìm kiếm những thị trường phù hợp.
Những mô hình kinh tế này hoàn toàn có thể nhân rộng ở nhiều địa phương nếu được tiếp sức từ các sở, ngành, doanh nghiệp, ngân hàng. Tuy nhiên, từ một ý tưởng tốt đến xây dựng và nhân rộng các mô hình kinh tế cho phụ nữ vẫn còn một khoảng cách.
Theo bà Nguyễn Thị Huyền, điểm nghẽn trước hết nằm ở nhận thức và năng lực thực hiện. Không ít phụ nữ chủ động, có ý tưởng nhưng còn lúng túng khi tiếp cận quy trình sản xuất hay những yêu cầu mới của thị trường. Đây cũng là những vấn đề cần được tháo gỡ trong thời gian tới.
Có thể nói, những điểm nghẽn ấy đặt ra những yêu cầu mới trong cách hỗ trợ phụ nữ vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Nếu trước đây, một phần nguồn lực được dành để hình thành mô hình, thì giai đoạn tiếp theo cần quan tâm nhiều hơn đến khả năng vận hành và phát triển sau hỗ trợ.
Một lớp tập huấn chỉ thực sự có giá trị khi kiến thức được áp dụng vào sản xuất. Một nguồn vốn chỉ thực sự phát huy khi giúp phụ nữ đầu tư được vào sinh kế và tạo ra thu nhập ổn định. Một sản phẩm được gọi là “xanh” chỉ có ý nghĩa khi vừa giảm tác động đến môi trường, vừa tạo được giá trị kinh tế và có chỗ đứng trên thị trường.
Ở góc độ này, hỗ trợ sinh kế là một trong những điều kiện để phụ nữ miền núi có thêm quyền lựa chọn. Bởi lẽ, khi có thu nhập, kiến thức và khả năng làm chủ nguồn lực, tiếng nói của người phụ nữ trong gia đình cũng có thêm trọng lượng.
Từ chỗ được vận động tham gia, phụ nữ có thể trở thành người chủ động đề xuất, quyết định và dẫn dắt những thay đổi trong chính cộng đồng của mình. Đó cũng là bước chuyển mà các dự án, chương trình hỗ trợ phụ nữ, trẻ em miền núi cần hướng tới.