Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ của Đà Nẵng mở ra hướng tổ chức lại du lịch nông thôn trên nền tảng sản xuất sạch, sinh thái và văn hóa bản địa. Từ 16 không gian được xác định, cần kết nối các điểm thành tuyến trải nghiệm có chất lượng, có thị trường và có sự tham gia thực chất của người dân.

Bổ sung chiều sâu
Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ của thành phố xác định 16 không gian gắn với du lịch trải nghiệm là cơ sở quan trọng để ngành du lịch nhìn lại bản đồ điểm đến nông thôn theo hướng có tổ chức hơn.
Đà Nẵng sau hợp nhất có không gian phát triển rộng, trải từ ven biển, đồng bằng, trung du đến miền núi. Mỗi vùng có một lớp tài nguyên riêng, từ rau, lúa, thủy sản, vườn cây, làng cổ, văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số, đến dược liệu và sinh thái dưới tán rừng.
Nếu được định vị đúng, các điểm này có thể bổ sung chiều sâu cho thương hiệu du lịch Đà Nẵng, vốn lâu nay được nhận diện mạnh ở đô thị, biển, nghỉ dưỡng và di sản.
Ở góc độ quản lý du lịch, yêu cầu đặt ra là rà soát, cập nhật các không gian nông nghiệp hữu cơ vào hệ thống tuyến điểm của thành phố, đồng thời đánh giá kỹ điều kiện khai thác thực tế như giao thông, điểm dừng chân, vệ sinh môi trường, sản phẩm mua về, khả năng kết nối với doanh nghiệp lữ hành...
Một điểm đến nông nghiệp hữu cơ muốn tham gia thị trường du lịch cần được tổ chức theo tiêu chuẩn dịch vụ, trong đó sản phẩm nông nghiệp, câu chuyện bản địa, cảnh quan và người dân phải trở thành phần cốt lõi của trải nghiệm.
Thành phố có nhiều chất liệu tốt, nhưng chất liệu ấy cần được tổ chức thành sản phẩm có cấu trúc. Trà Quế, Hội An Đông, Quảng Phú, Đại Bình, Lộc Yên, Bhơ Hôồng, Trà Linh hay Bến Giằng đều có vai trò riêng trong mạng lưới trải nghiệm xanh.
Khi các điểm được kết nối bằng tuyến phù hợp, gắn với mùa vụ, lễ hội, ẩm thực, sản phẩm OCOP, câu chuyện văn hóa và sự tham gia của cộng đồng, du lịch nông nghiệp hữu cơ sẽ góp phần mở rộng không gian trải nghiệm của Đà Nẵng theo hướng bền vững hơn.

Thiết kế trải nghiệm
Một vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ muốn trở thành điểm du lịch không thể chỉ dựa vào cảnh quan đẹp hoặc sản phẩm sạch, mà phải được thiết kế thành một trải nghiệm có cấu trúc.
Với farmstay, du lịch vườn, du lịch cộng đồng hay du lịch nông nghiệp, điều quan trọng là xác định rõ khách đến bằng đường nào, dừng ở đâu, ở lại bao lâu, tham gia hoạt động gì, ai hướng dẫn, ăn gì, mua gì, học được điều gì và rời đi với ký ức như thế nào...
Nông nghiệp hữu cơ có lợi thế lớn vì bản thân quá trình sản xuất đã chứa đựng câu chuyện về đất, nước, mùa vụ, giống cây, cách chăm sóc, bảo vệ môi trường và tri thức bản địa.
Tuy nhiên, những giá trị này cần được chuyển hóa thành hoạt động phù hợp với từng nhóm khách. Với gia đình đô thị, đó có thể là trải nghiệm làm vườn, thu hoạch rau, nấu ăn, chơi cùng thiên nhiên; với học sinh là giáo dục sinh thái; với khách quốc tế là trải nghiệm chậm, tìm hiểu văn hóa bản địa, ẩm thực và lối sống của cộng đồng...
Nếu 16 không gian nông nghiệp hữu cơ của Đà Nẵng được thiết kế theo đúng sức chứa, đúng bản sắc và đúng năng lực cộng đồng, thành phố có thể hình thành nhiều sản phẩm riêng, phục vụ được khách nội địa cuối tuần và nhóm khách quốc tế muốn ở lại lâu hơn với nông thôn, sinh thái, văn hóa bản địa.

Kết nối thị trường
Từ góc độ doanh nghiệp lữ hành, một điểm nông nghiệp hữu cơ chỉ có thể đưa vào tour khi sản phẩm đủ ổn định để vận hành với khách.
Cảnh quan đẹp, câu chuyện hay, sản phẩm sạch là điều kiện quan trọng, nhưng doanh nghiệp còn cần biết rõ điểm đến có thể đón bao nhiêu khách mỗi lượt, mùa nào đẹp nhất, thời lượng trải nghiệm bao lâu, có người hướng dẫn tại chỗ hay không, chi phí dịch vụ ra sao, bữa ăn được tổ chức thế nào, sản phẩm mua về là gì và khi phát sinh tình huống thì ai chịu trách nhiệm phối hợp xử lý.
Các điểm như Trà Quế, Đại Bình, Lộc Yên, Trà Lý, Biển Rạng, Sông Kôn, Trà Linh hay Bến Giằng đều có chất liệu tốt, nhưng mỗi nơi cần được định vị khác nhau để tránh trùng lặp.
Có điểm phù hợp với tour nửa ngày cho gia đình, học sinh, khách nội địa; có điểm có thể phát triển tour một ngày kết hợp ẩm thực, làng nghề, vườn cây, sản phẩm OCOP; có điểm nên đi theo hướng lưu trú cộng đồng, trekking nhẹ, trải nghiệm văn hóa bản địa và sản phẩm dược liệu.
Khi sản phẩm được phân vai rõ, doanh nghiệp lữ hành mới dễ thiết kế tuyến, tính giá, bán tour và kết nối với khách sạn, nhà hàng, điểm bán hàng địa phương.
Doanh nghiệp rất cần các điểm đến xanh, sạch, có câu chuyện và người dân tham gia thật sự. Với khách quốc tế, yếu tố bản địa, môi trường, cách người dân làm nông, câu chuyện sản phẩm và sự chân thật của trải nghiệm có giá trị rất lớn.
Nếu 16 điểm nông nghiệp hữu cơ được kết nối theo mùa vụ, lễ hội, ẩm thực, sản phẩm mua về và các tuyến lưu trú, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ sở để xây dựng tour dài hơn, giá trị cao hơn, giúp du khách ở lại với vùng nông thôn lâu hơn.