ĐNCT - Từ kỹ thuật chế tác xương lá của cha, chị Võ Thị Như Nguyện (SN 1984, trú phường Hải Châu) từng bước tìm lối đi riêng cho nghề thủ công gia đình.

Từ nón sang quạt, từ lá bàng rừng đến sen, ngọc lan, bồ đề, sắn dây, hoàng hậu…, mỗi thay đổi đều bắt đầu từ sự am hiểu vật liệu và mong muốn nối tiếp nghề bằng những cách biểu đạt mới.
Mới đây, tại Áo dài Fashion Week London 2026, những chiếc nón và quạt xương lá xuất hiện bên tà áo dài, góp phần lan tỏa những hình ảnh quen thuộc của Việt Nam trong một không gian đa văn hóa. Từ yêu cầu của khách hàng, chị Võ Thị Như Nguyện hoàn thiện 5 bộ nón và quạt, đưa lên bề mặt sản phẩm những hình ảnh gợi nhắc quê hương như Chùa Một Cột (Hà Nội), Cầu Rồng (Đà Nẵng)… đồng thời kết hợp với các biểu tượng quen thuộc của London như Tower Bridge, Elizabeth Tower...
Chỉ có 10 ngày để chế tác, Nguyện gần như phải làm việc xuyên đêm. Mỗi thiết kế đòi hỏi sự cân nhắc kỹ giữa màu sắc, họa tiết và cấu trúc tự nhiên của lá. Với chị, đó cũng là cách để sản phẩm thủ công mang theo dấu ấn của nơi chốn mà vẫn giữ được vẻ mộc mạc, tinh tế vốn có. “Qua các sản phẩm, tôi mong bạn bè quốc tế có thể cảm nhận được vẻ đẹp của nghệ thuật thủ công Việt Nam, từ sự kỳ công trong từng công đoạn đến giá trị thẩm mỹ được tạo nên bằng bàn tay người thợ”, chị chia sẻ.

Xương lá đã hiện diện trong tuổi thơ của Nguyện từ rất sớm, giữa những món đồ thủ công cha miệt mài chế tác và màu vẽ của mẹ. Cha chị, ông Võ Ngọc Hùng, nhiều năm gắn bó với xương lá bàng, bằng lăng rừng; những công đoạn ngâm, chải, bồi lá vì thế trở thành hình ảnh quen thuộc trong ký ức của chị.
Dẫu vậy, Nguyện lại chọn hành trình riêng: tốt nghiệp chuyên ngành sơn mài, Khoa Hội họa, Trường Đại học Nghệ thuật Huế, rồi tiếp tục theo đuổi thời trang và các công việc sáng tạo. Sau nhiều năm đi theo lựa chọn riêng, Nguyện nhận ra những kỹ thuật cha tích lũy cần được tiếp nối. Chị trở về học nghề từ đầu, kiên nhẫn làm quen lại với từng công đoạn. Ban đầu là mong muốn gìn giữ, nhưng càng trực tiếp làm, chị càng tìm thấy sự say mê của riêng mình. Từ đó, mạch nghề gia đình được nối tiếp theo hướng mới, mang theo cảm quan hội họa và dấu ấn sáng tạo của Nguyện.
Dấu ấn ấy trước hết được Nguyện thử sức trên chiếc quạt. Từ nón sang quạt là bài toán hoàn toàn khác về cấu trúc. Nón có phom tương đối ổn định, còn quạt liên tục đóng, mở, buộc xương lá phải thích ứng với chuyển động của nan tre. Vật liệu phải đủ mềm để chuyển động, nhưng cũng đủ chắc để không bung, gãy hay kẹt sau nhiều lần sử dụng. Nguyện mất khoảng ba tháng và làm hỏng gần 100 chiếc quạt để tìm lời giải. Có chiếc đẹp khi mở ra nhưng gập lại không trơn tru, có chiếc bung lớp kết dính, có sản phẩm hoàn thiện nhưng không giữ được độ bền mong muốn.
Từ kỹ thuật nấu hồ bồi lụa của cha, chị tiếp tục thử nghiệm chất kết dính và cách bồi. Keo khô quá nhanh khiến xương lá cứng, giòn; chậm quá lại khó bảo đảm độ bền. Sau nhiều lần điều chỉnh, Nguyện hoàn thiện kỹ thuật bồi lụa xuyên sáng hai mặt. Hệ gân vẫn hiện rõ khi ánh sáng đi qua, trong khi bề mặt đủ ổn định để theo nhịp đóng, mở của nan tre. Đến nay, Nguyện đã chế tác và đưa ra thị trường hàng trăm sản phẩm nón, quạt; nhiều sản phẩm theo khách hàng đến Anh, Bồ Đào Nha, Ý…

Nếu chiếc quạt đánh dấu bước thay đổi về hình thức, việc mở rộng nguyên liệu lại cho thấy cách chị đi sâu vào đặc tính của từng loại lá. Từ lá bằng lăng rừng vốn gắn với công việc của cha, chị thử gần trăm loại khác nhau, quan sát cấu trúc gân, độ dày, khả năng chịu ngâm và phản ứng sau xử lý.
Sau quá trình sàng lọc, chỉ 5 loại được giữ lại để tiếp tục phát triển thành sản phẩm gồm sen, ngọc lan, bồ đề, sắn dây và hoàng hậu. Lá dùng để chế tác phải đủ già, gân rõ, không sâu bệnh. Ngay từ khâu chọn nguyên liệu, chỉ một sai lệch cũng có thể ảnh hưởng đến cả quá trình phía sau.
Mỗi loại lại mang đặc tính riêng: lá bằng lăng rừng hơi bầu, ngọc lan thuôn nhọn; lá hoàng hậu có phần đầu tròn, dáng gần như cánh bướm; lá sen tròn nhưng mềm, khó xử lý để giữ được độ trong. Cùng là bằng lăng, loại mọc trong tự nhiên có hệ gân đủ chắc để chế tác, trong khi một số lá trồng trong nhà chỉ giữ được những sống gân cơ bản sau xử lý, khó đáp ứng yêu cầu.

Sự khác biệt ấy khiến người làm không thể áp dụng cùng một công thức cho mọi loại lá. Có loại giữ được mạng gân chắc sau nhiều tuần ngâm, có loại lại dễ rã chỉ sau vài thao tác. Với Nguyện, chính những khác biệt tự nhiên ấy tạo nên sức hấp dẫn của vật liệu. “Tôi thích sự không hoàn hảo của vật liệu tự nhiên. Mỗi chiếc lá có dáng và mạng gân riêng, nên ngay từ đầu sản phẩm đã mang tính độc bản”, chị chia sẻ.
Quá trình xử lý vì thế cũng phải điều chỉnh theo từng loại. Lá thường được ngâm trong nước pha baking soda từ một tháng đến một tháng rưỡi để phần thịt dần phân hủy; riêng lá hoàng hậu cần khoảng hai tháng. Khi đạt độ cần thiết, phần thịt lá được chải bỏ từng chút để mạng gân hiện ra. Chỉ một thao tác mạnh tay cũng có thể làm đứt cấu trúc đã mất nhiều tuần để chuẩn bị. Riêng với lá hoàng hậu, chị tìm được cách giữ lại cả phần thịt lá lẫn mạng gân thay vì chỉ lấy phần xương trong suốt, nhờ đó bề mặt có thêm sắc độ và chiều sâu tự nhiên.
Khi đạt yêu cầu, xương lá tiếp tục được tạo màu bằng những nguyên liệu tự nhiên như nghệ, hạt dành dành… Quãng thời gian làm việc trong lĩnh vực thời trang, đặc biệt là kinh nghiệm nhuộm vải, giúp Nguyện nhanh chóng nắm được khả năng bắt màu của xương lá, từ đó thử nghiệm thêm nhiều sắc độ khác nhau. Qua nhiều lần thử, chị dần chuyển từ việc tìm loại lá “làm được” sang tìm chất liệu “có thể kể chuyện”. Dáng lá, mật độ gân, độ trong và sắc tự nhiên đều được cân nhắc trước khi chọn màu, đặt họa tiết và tổ chức bố cục. Những nét vẽ hoa sen, chim, phượng… được đặt vừa đủ để mạng gân, khoảng rỗng và độ trong của lá vẫn hiện diện.
Vẻ đẹp độc bản không chỉ đến từ việc khó có hai chiếc lá giống nhau, mà còn ở cách Nguyện đọc cấu trúc sẵn có của vật liệu rồi quyết định nên giữ lại điều gì, thêm vào điều gì. Sự kết hợp giữa kỹ thuật gia truyền với cảm quan hội họa, thời trang đã giúp Nguyện từng bước hình thành dấu ấn riêng trên xương lá.