Hình thành hệ sinh thái hợp tác đa bên thực chất, trong đó cộng đồng tham gia với vai trò chủ thể trở thành yêu cầu tất yếu nếu muốn phát triển xanh lâu dài.

Dù là mô hình phù hợp xu thế, nhưng Hợp tác xã Rừng Bách Thảo cũng vấp phải những rào cản. Theo ông Nguyễn Thanh Bình, Giám đốc Hợp tác xã Rừng Bách Thảo, khó khăn lớn của hợp tác xã là mô hình vườn rừng có thời gian kiến thiết cơ bản khá dài, trong những năm đầu chưa thể tạo nguồn thu ổn định. Khi muốn mở rộng, hợp tác xã cần nguồn lực về vốn, giống cây bản địa có giá trị, kỹ thuật canh tác, chế biến và kết nối thị trường. Vì vậy, hợp tác xã mong muốn có sự đồng hành của chính quyền, nhà khoa học, doanh nghiệp và các tổ chức phát triển để hoàn thiện mô hình, từng bước mở rộng sản xuất và tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm.
Đây cũng là khó khăn chung của nhiều chủ thể sản xuất quy mô vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố khi muốn mở rộng mô hình phát triển xanh quy mô lớn.
Theo PGS TS. Võ Văn Minh, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng), cần chuyển từ những dự án riêng lẻ sang hệ sinh thái hợp tác bền vững; trong đó chính quyền, nhà khoa học, doanh nghiệp, cộng đồng, tổ chức phát triển và khu vực tài chính đảm nhiệm những mắt xích khác nhau. “Một dự án có thể thực hiện bởi một tổ chức. Nhưng một hệ sinh thái phát triển chỉ có thể tạo ra bởi sự hợp tác đa bên”, ông Minh cho hay.
Kinh nghiệm triển khai các giải pháp dựa vào thiên nhiên của Tổ chức Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên (WWF) cho thấy rõ hơn cách phân vai này. Nhà nước xác định địa bàn ưu tiên, chính sách, quy hoạch và cơ chế chia sẻ lợi ích; trường đại học cung cấp giải pháp kỹ thuật, đào tạo và đánh giá tác động; doanh nghiệp và khu vực tài chính tham gia đầu tư, truy xuất, chế biến, thị trường và công cụ tài chính xanh; các tổ chức phát triển kết nối đối tác, hỗ trợ kỹ thuật và huy động nguồn lực.
Ông Nguyễn Đình Phước, quản lý dự án của WWF Việt Nam nhận định, việc hình thành hệ sinh thái đa bên cần đi vào những nhu cầu cụ thể của từng mô hình. Một hợp tác xã cần vốn, kỹ thuật và thị trường; cộng đồng cần cơ chế tham gia và chia sẻ lợi ích; doanh nghiệp cần chuỗi cung ứng ổn định, trong khi cơ quan quản lý, giới nghiên cứu và các tổ chức phát triển đảm nhiệm những phần việc hỗ trợ khác nhau. Xác định rõ vai trò và nguồn lực của từng bên là điều kiện để những sáng kiến đang ở quy mô nhỏ có thêm khả năng duy trì và mở rộng.

Một trường hợp khá rõ về hiệu quả phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng là mô hình tiểu khu đồng quản lý bảo tồn biển Bãi Hương (xã Tân Hiệp). Thôn Bãi Hương hiện có hơn 100 hộ với hơn 400 nhân khẩu, phần lớn làm nghề biển và kết hợp dịch vụ du lịch. Năm 2011, cộng đồng nơi đây được UBND tỉnh Quảng Nam (cũ) trao quyền quản lý hơn 19km2 phần đảo và mặt nước biển, trở thành đơn vị đầu tiên trên cả nước được trao quyền quản lý theo mô hình này. Theo đó, cộng đồng là chủ thể tham gia quản lý hoạt động khai thác thủy sản và phát triển sinh kế trên nền tảng bảo tồn. Người dân được tham gia lập kế hoạch quản lý, truyền thông, vệ sinh môi trường, tổ chức các dịch vụ du lịch; đồng thời phối hợp lực lượng biên phòng tuần tra, giám sát hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn.
Ông Lê Ngọc Thảo, cán bộ Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm cho biết, việc người dân trực tiếp tham gia lập kế hoạch và tổ chức các hoạt động trong khu vực được giao đã phát huy vai trò và sức mạnh của cộng đồng. Người dân Bãi Hương đã phối hợp các đơn vị chức năng trồng, phục hồi hàng nghìn mét vuông rạn san hô, xây dựng vườn ươm san hô cứng. Độ phủ san hô sống tại các vùng rạn trong tiểu khu Bãi Hương có xu hướng tăng và ở mức tốt, tạo môi trường thuận lợi cho sinh vật biển phát triển.
Việc giữ gìn cảnh quan, môi trường và hệ sinh thái đồng thời tạo thêm điều kiện phát triển sinh kế du lịch. Bên cạnh nghề biển truyền thống, hiện hơn 70% số hộ ở Bãi Hương tham gia các loại hình dịch vụ lưu trú, ăn uống; cả thôn có gần 20 homestay với hơn 50 phòng, mỗi năm phục vụ vài chục nghìn lượt du khách...
Ông Trần Hữu Vỹ, Phó Chủ tịch Hội đồng sáng lập Trung tâm GreenViet cho rằng, trao quyền cho cộng đồng trước hết phải bắt đầu bằng nâng cao kiến thức, năng lực và giúp người dân nhận ra nội lực của chính mình. Kiến thức bản địa, kỹ năng và kinh nghiệm sẵn có là nguồn lực cần được phát huy; bên cạnh đó, cộng đồng vẫn cần sự hỗ trợ về tài chính, chuyên gia và kết nối thị trường. “Tại các địa bàn dự án, sau khi được đào tạo chuyên sâu, phụ nữ địa phương trực tiếp đứng lớp, truyền đạt kiến thức về kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn cho cộng đồng. Cộng đồng nói cho cộng đồng nghe, cộng đồng chia sẻ với nhau để cùng làm là cách duy trì dự án bền vững nhất”, ông Vỹ nói.