Với quỹ không gian cảnh quan và hệ sinh thái đa dạng, bài toán đặt ra với Đà Nẵng là quản trị sinh thái hài hòa để người dân có sinh kế nhưng không làm gia tăng áp lực lên môi trường và đa dạng sinh học.

Phát triển sinh kế trong khi giảm sức ép lên tài nguyên đang được cụ thể hóa bằng những mô hình sản xuất gắn lợi ích kinh tế với gìn giữ môi trường, hệ sinh thái. Thời gian qua, Hợp tác xã Rừng Bách Thảo (xã Sơn Cẩm Hà) chọn phát triển mô hình vườn rừng thay cho phương thức độc canh cây keo.
Theo ông Nguyễn Thanh Bình, Giám đốc Hợp tác xã Rừng Bách Thảo, độc canh kéo dài dẫn đến suy thoái đất, thu hẹp sinh cảnh của chim, côn trùng và sinh vật đất; người trồng phụ thuộc vào một loại cây nên nguồn thu thiếu ổn định. Mô hình vườn rừng được thiết kế theo cấu trúc đa tầng. Tầng cao là cây rừng bản địa có chức năng tạo tán, che chắn gió, bảo vệ hệ sinh thái; tầng trung gồm quế, dó trầm, lòn bon, măng cụt, bưởi, cau... tạo nguồn thu dài hạn; tầng thấp là sa nhân, đinh lăng, sả, gừng, nghệ... nhằm tạo nguồn thu ngắn hạn trong thời gian chờ cây dài ngày.
Ở trường hợp khác, câu chuyện phục hồi rừng còn gắn trực tiếp với những thay đổi mà cộng đồng sống nơi lưu vực sông Cu Đê đang cảm nhận. Bà Đỗ Thị Huyền Trâm, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp sinh thái và du lịch cộng đồng Hòa Bắc (phường Hải Vân) cho biết, hợp tác xã hướng tới bốn mục tiêu gồm phục hồi rừng, gìn giữ và phát triển văn hóa bản địa, hướng nông nghiệp sang sinh thái và nâng cao sinh kế cộng đồng.
Thực tế đồng bào Cơ Tu vốn sống gắn với rừng, nhưng hiện nhiều khu vực rừng đã suy giảm. Theo đó, hợp tác xã mong muốn cộng đồng được tiếp cận nhiều hơn với kiến thức về nông nghiệp sinh thái và bảo tồn; tạo điều kiện tham gia các chương trình học tập, chia sẻ tri thức bản địa và từng bước thay đổi phương thức sản xuất...

Theo ông Nguyễn Đình Phước, quản lý dự án của Tổ chức Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam (WWF Việt Nam), nhiều cộng đồng vùng đệm có sinh kế phụ thuộc vào rừng và lâm sản ngoài gỗ, trong khi nông hộ và chủ rừng nhỏ còn hạn chế về vốn, kỹ thuật, tổ chức và thị trường. Vì vậy, suy thoái thiên nhiên và rủi ro sinh kế cần được giải quyết đồng thời. Các trường hợp trên cho thấy sinh kế thiếu bền vững có thể tạo thêm áp lực lên tài nguyên, trong khi lợi ích kinh tế nếu được gắn với trách nhiệm bảo tồn có thể tạo thêm động lực gìn giữ tài nguyên.
Ông Trần Hữu Vỹ, Phó Chủ tịch Hội đồng sáng lập Trung tâm GreenViet cho hay, bảo tồn tài nguyên có thể được thúc đẩy thông qua việc tạo sinh kế xanh ngay trong cộng đồng. Thực tế dự án mà GreenViet đang hỗ trợ triển khai tại các xã, phường: Hải Vân, Sơn Trà, Sông Vàng cho thấy phụ nữ, hợp tác xã, tổ hợp tác và các hộ gia đình có thể trực tiếp tham gia các mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Bài toán phát triển dựa trên giá trị thiên nhiên càng đáng chú ý khi không gian Đà Nẵng sau hợp nhất trải rộng qua đô thị, ven biển, biển đảo, đồng bằng, trung du và miền núi; đồng thời sở hữu các hệ sinh thái rừng, biển, sông và nhiều khu vực có giá trị đa dạng sinh học. Tại hội thảo quốc tế “Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững khu vực miền Trung và Tây Nguyên” lần thứ VII vừa diễn ra, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hồ Quang Bửu cho rằng, trong không gian phát triển mới, bài toán đặt ra với Đà Nẵng không đơn thuần là phát triển nhanh hơn mà phải “phát triển xanh hơn, bền vững hơn và hài hòa hơn giữa con người với thiên nhiên”. Một trong những vấn đề cốt lõi cần được giải quyết là làm thế nào để phát triển kinh tế, đồng thời tạo sinh kế cho người dân và bảo tồn được tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học.

Dự thảo Quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 xác định nguyên tắc lấy hệ thống tự nhiên, sinh thái và di sản làm khung nền tổ chức không gian, dựa trên cấu trúc sông - biển - rừng; bảo vệ tính liên tục của các hành lang sinh thái từ vùng rừng, miền núi phía tây qua hệ thống sông, đồng bằng đến vùng ven biển và không gian biển. Quy hoạch cũng đặt yêu cầu kiểm soát phát triển dàn trải tại những khu vực có giá trị sinh thái, nông nghiệp, cảnh quan và di sản.
Ở góc độ nghiên cứu, PGS-TS. Võ Văn Minh, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) cho rằng: “Cần chuyển tư duy từ giàu tài nguyên sang giàu giá trị. Nghĩa là khai thác giá trị của các hệ sinh thái trong khi vẫn duy trì khả năng tái tạo của thiên nhiên”.
Theo đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường, năm 2024, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 136/2024/ QH15 về tổ chức chính quyền đô thị và thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng; năm 2025 tiếp tục ban hành Nghị quyết số 259/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 136/2024/QH15. Trong đó có nhiều cơ chế liên quan đến phát triển sản xuất xanh, môi trường, tài chính và đất đai.
Theo cơ chế đặc thù của Quốc hội, nguồn thu từ giao dịch tín chỉ carbon là nguồn thu ngân sách thành phố được hưởng 100%. Tháng 8/2026, UBND thành phố phê duyệt Đề án phát triển và quản lý tín chỉ carbon rừng giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035. Đề án được xem là trục “xương sống” để hiện thực hóa định hướng phát triển kinh tế xanh từ rừng. Tuy nhiên, để đưa cơ chế vào thực tế vẫn phải bảo đảm đầy đủ các điều kiện, trình tự và thủ tục theo quy định. Vì vậy, các đề xuất triển khai cần được đánh giá, xem xét cụ thể trên cơ sở những quy định có liên quan.