Trong tác phẩm Le Petit Prince (Hoàng tử Bé) của nhà văn Antoine de Saint-Exupéry có một chương đặc biệt mà bất kỳ người đọc nào yêu văn học Pháp và từng đọc cuốn sách này cũng ghi nhớ: đó là chương 21, chương Con chồn và Hoàng tử Bé.
Ở chương này có một từ khóa hết sức quan trọng, và có thể nói là từ đại diện cho tinh thần của cả cuốn sách: “apprivoiser”.
Hiện tượng dịch thuật “bất khả tư nghì”
Trong tiếng Pháp, “apprivoiser” ban đầu có nghĩa gốc là “thuần hóa” (làm cho một thú vật bớt hoang dại). Nhưng trong đời sống hiện đại, người Pháp hầu như không dùng “apprivoiser” trong nghĩa đó nữa mà mang nghĩa bóng là “làm quen, làm thân” với điều gì, với ai.
Tại Việt Nam, Le Petit Prince cũng là tác phẩm được các dịch giả đặc biệt ưu ái. Tính đến nay đã có khoảng hơn chục phiên bản với nhiều tựa đề khác nhau. Bản dịch nào cũng là tâm huyết của từng dịch giả, mỗi người mỗi vẻ. Nhưng có lẽ, Hoàng tử Bé của thi sĩ Bùi Giáng là một hiện tượng dịch thuật “bất khả tư nghì” xưa nay hiếm.
Khi dịch “apprivoiser”, Bùi Giáng không chịu dùng những chữ dễ hiểu, ít nhiều có sự tương đồng trong tiếng Việt như đa số đồng nghiệp. Là người am tường tiếng Pháp, thấm nhuần văn hóa Pháp nhưng tinh thần lại đậm chất Á Đông và thuộc làu kinh sử của tiền nhân, “trung niên thi sĩ” đã táo bạo sáng tạo ra một chữ mới: “tuần dưỡng”.
Đó là một động từ Hán - Việt được sáng tạo bởi Bùi Giáng nhưng ông không hề tùy tiện, mà dựa trên một nền tảng Hán học vững vàng, không gây xung đột với cổ pháp. Khi ta đem ghép hai chữ lại - “tuần” 循 và “dưỡng” 養 - thì ý nghĩa mở ra thật tự nhiên.
“Tuần” là trạng từ chỉ cách thức: từ tốn, đúng thứ tự, thuận theo lẽ đạo, không hấp tấp. “Dưỡng” là động từ chính mang nội dung bồi đắp, gìn giữ, nuôi lớn điều còn non trẻ.
Hai chữ đứng cạnh nhau tạo nên một nghĩa hàm súc và đầy tính biểu tượng : “tuần dưỡng” nghĩa là bồi đắp mối liên hệ bằng những bước chậm rãi và chân thành.
Hành trình con người từ sơ ngộ đến tri âm
Trong kho tàng điển tích Á Đông, mối tri âm giữa Bá Nha và Tử Kỳ có thể là minh chứng đẹp cho tiến trình kết giao được nuôi dưỡng qua năm tháng.
Lần đầu gặp nhau bên dòng Hán thủy, Bá Nha gảy đàn dưới đêm trăng, Tử Kỳ tình cờ đứng nghe. Dù không học nhạc, Tử Kỳ lại hiểu trúng tâm ý người đàn. Sự thấu cảm từ một kẻ xa lạ khiến Bá Nha kinh ngạc.
Đêm ấy, hai người không chỉ dừng ở tiếng đàn, họ còn ngồi lại bên nhau và trò chuyện rất lâu. Bá Nha lần đầu mở lòng nói về nỗi cô độc của kẻ sĩ, về những điều không thể thổ lộ trong triều đình, về nỗi ưu tư bấy lâu chỉ gửi vào dây đàn. Tử Kỳ lắng nghe bằng sự đồng cảm hiếm có, chỉ dùng trực giác và tấm lòng để đáp lại.
Đây là hình mẫu cổ điển và đầy đủ nhất cho tinh thần “tuần dưỡng”: gặp nhau tình cờ, tâm tình mở dần, nâng niu tình cảm qua năm tháng, giữ trọn lời hẹn - tất cả hợp lại thành một mối giao cảm bất tử.
Nguyễn Khuyến và Dương Khuê cũng bồi đắp tình bạn bằng những bước chậm rãi và chừng mực như thế. Nếu ở thời Xuân Thu, tiếng đàn là cầu nối, thì trong không gian làng quê Bắc Bộ, những chén rượu quê và những câu thơ xướng họa đóng vai trò tương tự, từng chút một đưa hai tâm hồn lại gần nhau, lặng lẽ và sâu lắng.
Nhìn vào những câu chuyện trên, ta hiểu rằng “tuần dưỡng” không chỉ là một từ được chắt lọc tinh tế để miêu tả mối kết giao tri kỷ giữa con chồn và hoàng tử bé, mà còn là một chữ rất thích hợp trong văn hóa Á Đông của chúng ta khi muốn biểu đạt hành trình con người từ sơ ngộ đến tâm giao.
Vì vậy, chữ “tuần dưỡng” hoàn toàn có thể được xem như một “tân Việt từ” gốc Hán do chính Bùi Giáng khai sinh, một chữ có thể tiếp tục sống một đời sinh ngữ trong văn chương để miêu tả quá trình kết giao chậm rãi và bền bỉ giữa hai con người, đúng với tinh thần tri âm, tri kỷ mà Á Đông gìn giữ từ lâu.