VHXQ - Bà Tình đội nón, cúi đầu sát bếp thổi lửa. Khói tèm nhem từ mấy cây củi ướt loang làm mắt bà cay xè.

1. Hồi trưa gió lớn, một miếng tôn bị gió thổi bay. Mưa tạt khiến mớ củi để góc bếp ướt mem. Điện cúp từ sáng, bà ráng nấu nồi cơm ăn cho chắc bụng, đặng còn dọn lụt. Nước đã mấp mé sân, nuốt chửng cái que củi bà cắm để canh mực nước.
Con Trập rúc dưới gầm giường chợt sủa vang. Bà nheo nheo mắt nhìn ra cửa. Mãi một lúc mới nhận ra ông Tâm trong bộ áo mưa lùm xùm.
Ông nói, nước lên nhanh lắm, chưa có năm mô nước lớn như ri. Rồi giục bà chuẩn bị chạy lụt, lên nhà cao hơn tránh trớ. Mấy nhà bị ngập đã tập trung hết nhà ông Trung rồi. Bà Tình hỏi ông Tâm có ăn cơm không? Ông lắc đầu, rằng phải chèo ghe quanh quanh xóm coi có ai cần giúp chi không. Nói xong ông Tâm quày quả chèo ghe đi. Bà đứng ngó ra con nước mênh mông trắng xóa ngoài kia. Chiều nhập nhoạng hòa với màn mưa vẽ cảnh buồn thê thiết.
2. Nhà bà Tình ngay trước sát nhà ông Tâm, cùng ngó mặt ra sông Thu Bồn lộng gió. Một mùa lụt lớn, bà bàng hoàng đứng trên cái nền nhà trống trơn. Sông đã cuốn nhà bà trôi mất.
Ông Tâm cùng những người hàng xóm giúp bà dựng một căn nhà khác xa sông, sát chân núi. Ông nói ở đây cao lụt, sông sẽ không nuốt của bà thêm ngôi nhà nào nữa. Bà biết, mọi người đang hy vọng ở xa sông biết đâu lòng bà sẽ nguôi ngoai.
Bà ở chỗ mới, ông Tâm thỉnh thoảng vẫn tới ngồi uống nước chè, hỏi han những câu chuyện cũ. Bà hỏi hễ lụt là nhà ông lút nóc, sao không chuyển chỗ khác cao hơn. Ông nói, cả đời mình sống dựa vô sông, chuyển đi thấy mình không yên! Bà biết chứ, ở đây nhưng lòng bà lúc nào cũng như có sóng.
Đứa con trai trên thành phố về, không đành lòng thấy ba dầm sương đêm ngày nên bảo ông Tâm nghỉ nghề chài lưới. Ông gật cho con yên lòng nhưng chiếc ghe cũ vẫn giữ lại cất trên gác gỗ.
Tới đầu mùa lụt, ông đem ghe xuống, sửa sang, sơn phết lại cho chắc chắn rồi phơi ngoài nắng. Khi nước lụt tràn trề, chẳng biết đâu là sông đâu là đồng thì ông chèo ghe đi qua xóm này xóm kia.
Có nhà nhờ ông bơi ghe đi mua liều thuốc cảm, ho sốt mấy ngày mà không có thuốc uống. Nhà khác ngập hết trơn không có chi ăn, nhờ ông đi mua mấy gói mì tôm.
Chèo ghe đi, ông như con cá nằm mắc cạn nay được quăng xuống nước. Bà Tình nhìn bàn tay gân guốc nhưng tái nhợt nhăn nhúm vì lạnh bảo ông chèo ít thôi kẻo bệnh. Ông nói mình nghèo, giúp được bà con cái chi thì giúp.
3. Đêm qua, bà Tình thức suốt đêm canh nước lớn. Ánh đèn dầu hắt bóng bà lên bức tường loang lổ thời gian. Đi qua bao nhiêu mùa lụt, bà không thấy sợ chỉ thấy buồn. Nỗi buồn dâng lên ngập lút như con nước lớn ngoài kia. Bà quay quắt nhớ con.
Dòng nước lạnh ngắt chạm thềm nhà bà rồi dựt. Tiếng gà gáy eo óc báo hiệu trời sáng. Bình minh như tấm vải bị xé hiện ra một vùng mênh mông nước bạc.
Bà bước ra sân thấy nước tới ngõ. Nước dựt, gửi lại một lớp bùn non dày trên mặt đất. Bùn bám trên gốc cây, trên lá, trên trái bòng non mới lớn bằng nắm tay. Bà lội chân trần trên lớp bùn nhão nhoét, lành lạnh. Mùi bùn xộc lên mũi làm bà chảy nước mắt.
Hồi đó khi người ta tìm thấy bé Thương, bùn non phủ lên người con như tấm mền lạnh lẽo. Có người trong xóm thất thanh kêu lên đã tìm thấy con bé dạt vào bờ sông. Ông Tâm dùng hết sức mạnh lôi bà lại khi chân bà đạp lên bùn chạy về hướng con. Bà con trong xóm ôm bà lại để bà không thấy cảnh khiến người dưng cũng thắt ruột thắt gan huống chi lòng mẹ.
Đêm đó ông trời có bao nhiêu nước đều trút hết xuống xứ này. Nước trên nguồn ầm ầm đổ về. Làng xóm kêu lên chới với giữa màn đêm đen kịt. Bà dắt tay con gái chạy đi.
Một khoảnh khắc chới với sụp hố, bà hụt tay con giữa dòng nước. Tiếng mưa ầm ầm át đi tiếng gào của bà. Bà chợt nghe một bàn tay lạnh như nước lôi bà đi. Bà giãy giụa đòi lao về dòng nước chảy tìm con. Mấy ngón tay bấm chặt vào tay bà đến ứa máu, lôi đến ngôi nhà cao nhất làng.
Bà ngồi trên nền đất nhão nhoét bùn non như người mất hồn. Hàng xóm chạy qua lo liệu, vun vén dẫu nhà họ cũng chẳng còn chi sau lụt. Người ta chôn con bé ở nà bắp ngó ra sông. Bao nhiêu năm qua rồi, mùi bùn non ám ảnh. Cả trong mơ, cái mùi ấy cũng khiến bà không thở được.
4. Nước dựt hết, bày biện ra mớ ngổn ngang khiến ai thấy cũng buông tiếng thở dài. Nhưng rồi sự thở than của dân xứ này cũng chỉ ngắn chừng đó, mọi người gọi nhau dọn dẹp. Bùn được rửa khỏi nhà, khỏi sân, khỏi đường đi còn lại thì mặc nhiên bồi đắp ruộng vườn, cây cỏ. Chỉ chừng mươi bữa, dưới lớp bùn ấy trồi lên những mầm xanh be bé.
Bà Tình chứng kiến bao nhiêu mùa dòng Thu Bồn đổi màu nước. Bà biết không có chi lạnh bằng dòng sông mùa lụt. Nhưng nếu lòng người không ấm như đốm than hồng thì chắc bà và cả bà con đã không ở lại đất này để đi hết những đắng chát cuộc đời. Mãi đến bây giờ, bà vẫn không biết đêm đó người nào trong làng đã lôi bà đi. Giữa chơi vơi sống chết vẫn không quên chìa bàn tay về phía người khác.
Chỗ bé Thương nằm sau mỗi mùa lụt, ông Tâm rải lên mớ hạt sao nhái hái trong vườn. Ông nói với bà, nhớ mãi con bé hay chạy chơi trong sân nói mấy bông hoa đẹp như cánh bướm rập rờn. Đi thăm con, nhìn những bông hoa đủ màu phơ phất trong gió bà cũng thấy lòng mình lặng yên như dòng sông sau mùa sóng dữ.