Văn hóa

Nghề xưa sống trong nhịp mới

TRÂM ANH - HỮU TRUNG • 04/10/2026 09:00

ĐNCT - Sau nhiều thế kỷ hình thành, các làng nghề vẫn hiện diện trong đời sống xứ Quảng, nhưng việc giữ nghề hôm nay không còn giống cha ông ngày trước.

12a(1).jpg
Chị Nguyễn Thị Thu bền bỉ giữ nghề gốm Thanh Hà. Ảnh: TRÂM ANH

Nếu thế hệ trước giữ nghề bằng đôi tay thì người thợ hôm nay còn phải học cách giữ nghề bằng tư duy mới, sản phẩm mới và thị trường mới.

Từ xưởng mộc đến không gian đương đại

Sinh ra giữa làng mộc Kim Bồng, Nghệ nhân nhân dân (NNND) Huỳnh Sướng (sinh năm 1969) lớn lên trong tiếng đục, tiếng búa đều đặn vọng ra từ xưởng của cha - NNND Huỳnh Ri. Những thanh âm ấy hòa vào nhịp sống làng quê, thân thuộc như tiếng mái chèo khua trên sông, tiếng gà gọi sáng hay lời người trong xóm gọi nhau ngoài ngõ.

Năm lên 10, Huỳnh Sướng bắt đầu cầm đục tập nghề. Phải mất khoảng năm năm kiên trì làm đi làm lại từng động tác, Huỳnh Sướng mới nắm được kỹ thuật căn bản và bắt đầu theo nghề cha ông. Nhưng tình yêu nghề không phải lúc nào cũng đủ giữ người trẻ ở lại làng. Năm 20 tuổi, khi việc làm ở Kim Bồng không đều, kinh tế gia đình còn khó khăn, Huỳnh Sướng rời quê vào Thành phố Hồ Chí Minh mưu sinh. Ba năm theo các nhóm thợ làm mộc dân dụng giúp ông có thu nhập, mở rộng tay nghề và tiếp xúc với nhiều cách tổ chức công việc.

Chính trong quãng đời xa làng, Huỳnh Sướng dần nhận ra giá trị của mộc Kim Bồng không chỉ nằm ở kỹ thuật dựng nhà, đóng thuyền hay đục chạm. Phía sau mỗi sản phẩm còn là nếp nghề, ký ức cộng đồng và lớp văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Nhận thức ấy thôi thúc Huỳnh Sướng trở về, tiếp tục học nghề từ cha.

Hai thế hệ cùng gắn bó với gỗ nhưng không đi hoàn toàn trên một con đường. Nghệ nhân Huỳnh Ri dành nhiều tâm sức cho kiến trúc truyền thống, phục dựng nhà cổ và các công trình tín ngưỡng. Nghệ nhân Huỳnh Sướng tiếp nhận nền tảng ấy rồi tìm hướng đi riêng với điêu khắc và mộc mỹ nghệ. Từ xưởng làng, sản phẩm mộc mỹ nghệ của Huỳnh Sướng dần theo chân du khách đi nhiều nơi. Bản thân ông cũng có dịp tham gia tư vấn, truyền nghề và trao đổi kinh nghiệm tại một số quốc gia. Những chuyến đi mở rộng góc nhìn của người thợ Kim Bồng về thị trường, mẫu mã và cách tổ chức sản xuất. Nhưng càng tiếp xúc với nhiều lối làm nghề, ông càng hiểu rõ một điều: Hình dáng sản phẩm có thể đổi thay, còn bản sắc Kim Bồng phải được giữ lại trên từng mặt gỗ.

Thổi sức sống mới vào đất

Cũng từng rời làng, chị Nguyễn Thị Thu trở về với bàn xoay, lò nung từ lúc cha mẹ bắt đầu yếu. Cả hai đều là nghệ nhân của làng gốm Thanh Hà, đã gửi gần trọn đời mình vào đất, vào lửa. Hôm chúng tôi ghé, cha chị, nghệ nhân Nguyễn Ngữ, vừa mất tròn 100 ngày. Mẹ chị cũng là nghệ nhân, giờ tuổi cao, sức yếu, trí nhớ khi đầy khi vơi. Chị Thu vẫn ngồi đó, bên những khối đất còn ẩm, lặng lẽ làm tiếp phần việc cha mẹ đã trao lại từ những năm trước. Nghề gốm nhọc, tiền công lại ít. Nhưng có những thứ người ta không dễ buông tay, bởi buông rồi, sợ một mai trong nhà không còn ai nhớ cách nhóm lò, nghe đất và chờ lửa.

Trở về rồi, chị Thu không chỉ nhận lại bàn xoay, lò nung, mà còn nhận cả những điều cha mẹ đã học bằng một đời làm nghề. Nhưng đất cũng phải tìm một dáng hình khác để ở lại với đời sống. Chum, vại ngày một thưa trong gian bếp, chị chuyển sang làm nồi cơm niêu, khay bát cho nhà hàng, lồng đèn, heo đất, bình nhỏ và đồ lưu niệm. Công dụng thay đổi, nhưng màu đất Thanh Hà và dấu tay người thợ vẫn còn đó, để gốm tiếp tục hiện diện trong những căn bếp, góc nhà và hành trang của người đi xa.

Song, tìm được dáng mới cho gốm vẫn chưa phải là điều khiến người phụ nữ 57 tuổi trăn trở nhất. Khó hơn là tìm một đôi tay tiếp tục chạm vào đất khi lớp thợ hiện tại dần lớn tuổi. Hai người con của chị đều chọn công việc khác. Chị hiểu quyết định ấy, bởi các con cần một sinh kế ổn định hơn. Nhưng với người thuộc thế hệ thứ năm trong gia đình làm gốm, việc chưa biết mạch nghề có thể bước sang đời thứ sáu hay không vẫn để lại nhiều tiếc nuối. Chị nói, dù sau này không có người thân tiếp nối, chỉ cần còn sức, chị vẫn ngồi bên bàn xoay, nhóm lửa lò nung.

Phước Kiều không chỉ có chiêng

Tại Phước Kiều, câu chuyện trở về của anh Dương Phạm Ngọc Toàn cũng bắt đầu khi người cha bước sang tuổi xế chiều. Tốt nghiệp Đại học Bách khoa, có một năm làm việc trong ngành xây dựng, Toàn rời công việc đúng chuyên môn để về đứng bên lò đúc của gia đình. Anh là con trai út trong sáu người con của Nghệ nhân ưu tú Dương Ngọc Thắng, đồng thời là người duy nhất chọn nối nghiệp cha.

Trước khi người con trở về, ông Thắng đã trải qua hành trình dài tìm đường mới cho nghề đúc. Không dừng lại ở những kinh nghiệm được truyền trong gia đình, ông tìm đến nhiều phường đúc để học hỏi, rồi sang Thái Lan tìm hiểu kỹ thuật chế tác đồ đồng lưu niệm. Năm 2000, ông thành lập doanh nghiệp, từng bước thay đổi cách sản xuất và tiếp cận thị trường. Thay vì ngồi chờ khách tìm đến, ông trực tiếp mang sản phẩm đi giới thiệu tại các khách sạn, nhà hàng và các khu du lịch dọc miền Trung. Từ đồ thờ cúng truyền thống, xưởng dần phát triển thêm cồng, chiêng, tượng, tranh đồng, đồ trang trí, quà tặng và các sản phẩm chế tác theo yêu cầu. Cách làm ấy mở thêm đầu ra, đưa đồng Phước Kiều đến nhiều địa phương và thị trường ngoài nước.

Toàn cho biết, xưởng hiện duy trì khoảng 15 - 20 lao động thường xuyên, phần lớn là người trong vùng. Người đã quen lửa lò nhiều năm đứng cạnh người mới tập nhận khuôn, rót đồng và nghe âm thanh của những mẻ đúc đầu tiên. “Giữ được người thợ là giữ được nghề”, Toàn chia sẻ. Bởi khi một người rời lò, điều mất đi không chỉ là đôi tay lao động mà còn là những kinh nghiệm được tích góp qua nhiều năm. Bởi vậy, có đơn hàng đều, có việc làm và thu nhập ổn định cũng là một cách giữ lửa cho Phước Kiều.

Làng nghề chỉ thực sự sống khi còn người làm nghề. Thử thách hôm nay không chỉ là giữ kỹ thuật cũ, mà còn phải tìm mẫu mã, thị trường và cách tổ chức phù hợp để nghề tiếp tục hiện diện trong đời sống mới.

(0) Bình luận
x
Nổi bật
Nghề xưa sống trong nhịp mới
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO