
Khắp cõi Việt Nam, dân gian hay gán "Quảng Nam hay cãi" như một đặt định tính cách của một xứ đất. Cãi cũng là kiểu ngạnh/ương bướng, không dễ nghe lời nói xuôi tai. Kể cả nghe xuôi xuôi thì cũng ưng "đá" lại cái, kiểu trả lời câu hỏi bằng một câu hỏi: Mi phải dân Quảng không? Chứ không phải dân Quảng thì dân mô?
Song, đọc sách, xem văn, ngẫm sử, hình như tôi thấy đừng nên cục bộ. Bởi không chỉ mấy ông thầy Quảng mới cãi, mới ngạnh, mà nhiều nơi cũng có. Điển hình như ông đồ Nghệ, cũng gàn, cũng ngạnh, cũng cãi, cũng bướng, chướng kém gì ai?
Lẩy câu thơ “Khoai lang gàn luống dọc thích bò ngang” (Trần Mạnh Hảo), thấy khắc họa sâu sắc tính cách của người xứ Nghệ, mà cũng đúng với người xứ Quảng vậy. Trên hai vùng đất này, con người tần tảo, mộc mạc như “khoai lang”, song tính cách hay “thích bò ngang” - là phản biện, dù đời là “luống dọc”.


Có bản lĩnh dám nghĩ, dám cãi, dám làm, nên con người hai xứ Nghệ và xứ Quảng thường là nơi phát khởi những tư tưởng đột phá và hành động, tạo dựng nhiều phong trào yêu nước và Duy tân. Tư duy sáng tạo là động lực để cãi với cái cũ, thủ cựu, lạc hậu trì hãm sự tiến bộ.
Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển từng cho rằng: “Cãi là biểu hiện của sự phát triển trí tuệ. Ở lĩnh vực đạo đức, cãi là biểu hiện của con người trực tính, không nịnh bợ và không dễ dàng chấp nhận điều mà người khác áp đặt cho mình. Chỉ có con người can đảm, ngay thẳng mới dám cãi, chịu chơi tham gia tranh cãi. Người xưa gọi đó là khí tiết…”.
Nhưng cũng có thể vì khí tiết đó mà nhiều người gập ghềnh trên đường sự nghiệp, ví như “nhà Quảng Nam học” Nguyễn Văn Xuân nhận xét: “Có thể đoán, người Quảng Nam bị nhiều trắc trở trong việc thăng quan tiến chức mà một trong những lý do chính, quan trọng có thể vì bệnh hay cãi mà ra".
Cãi đúng hay sai, điều ấy không thể biết được vì nó đã thuộc về dĩ vãng. Nhưng chỉ cần nghe tiếng “hay cãi” là không cấp lãnh đạo nào “nghe” dễ chịu”. Rõ là cãi - phản biện, dù có thiện ý cũng không dễ được nghe. Cãi, hay "có ngạnh" đều vậy, khó ưa là thế chăng?

Bình dân xưa ưa hát hò, kể chuyện tiếu lâm, nói lái... Tìm trong vốn văn nghệ dân gian xứ Quảng thấy miên man tràng giang đại hải những câu hò nhân ngãi ngọt lịm, ngọt ngào nhưng cũng không thiếu những chuyện trào tiếu phải giật mình vì cái tính… khó ưa.
Đơn cử là câu hò đối đáp khiến người ta tức… đến chết. Chuyện này dân gian truyền miệng, liên quan nhân vật Trần Hàn (Quế Sơn). Tương truyền ông Trần Hàn có tài hát đối gần như là “vô đối” trong vùng; không những trực tiếp hát, ông còn làm “thầy dùi” cho những người hát hò khoan đối đáp.
Ai gặp đối thủ “xương xẩu” hoặc “bí gỡ” vì những câu hát “hóc búa” đều tìm đến Trần Hàn để nhờ làm… thầy dùi, tham mưu, giúp đỡ. Thế nhưng Trần Hàn đã phải “tử” vì “nghiệp” hát hò khoan đối đáp, bị hộc máu mà chết sau ba lần hát đối bị thua không gỡ trước những đối thủ… dưới cơ.

Hết chỗ để nói! Cả hai cha con của ông (Trần Liệu, Trần Hàn) bị lôi ra để nhờ xử lý cái quần “rách dọc rách ngang” của phụ nữ. Xử lý xong mới được trả công! Thật hết chỗ để gỡ!
Người đời sau vẫn lấy cái chết của cụ Tú Hàn làm bài học về lẽ đời để răn dạy con cháu và lớp trẻ. Người thì nói: “Cao nhân tất hữu cao nhân trị” (người giỏi ắt có người giỏi hơn đánh bại)".
Hát hò khoan đối đáp thu hút người Quảng trong những đêm trăng, những khi gặt lúa, chèo đò… khác với kiểu hò đối khi tổ chức đêm hội thi thố tài năng. Hồi thập niên 1980, tôi còn được theo cha tới nghe mấy đêm hát được tổ chức tại vài làng ở Điện Bàn, làng này mời làng kia, từng chứng dự có lúc cao trào đối đáp lên cao thì chuyện xảy ra là người ta bỏ hát nửa chừng vì thua cuộc. Tức khí hơn thì bỏ văn dùng võ mồm chửi, vì câu hát chọc họ tức lộn gan lên đầu. Người Quảng khó ưa nhau có thể vì tức nhau tiếng gáy, vì câu hát hay mà nghĩa lý bất vị tình, xem ra rất đúng với chuyện này.
Khơi lại dòng mạch văn hóa, văn nghệ dân gian, có thể kể một nhân vật điển hình rất ưa thích với giới bình dân, nhưng lại khó ưa với những người "máu mặt" trong xã hội, đó là Thủ Thiệm. Cụ tên thật là Nguyễn Tấn Nhơn, sinh năm Giáp Dần, đời Tự Đức thứ 7 (1854) và mất năm Canh Thân, đời Khải Định thứ 5 (1920), quê quán ở Tam Hòa, Núi Thành, Quảng Nam cũ, nay xã Tam Anh, thành phố Đà Nẵng.

Giai thoại Thủ Thiệm và Truyện cười Thủ Thiệm để lại cho đời sau một chân dung có bản ngã, cá tính mạnh mẽ, với thái độ sống và những hành động chống đối xã hội cũ bằng tiếng cười châm biếm, đả kích cay độc, đầy sức chiến đấu. Đó là "một Thủ Thiệm “chất ngất ngạo khí” đã để lại cho Quảng Nam bao nhiêu giai thoại, những câu chuyện dân gian, những bài học cho bao thế hệ". (Lê Trâm - Lỡ hẹn cùng… Thủ Thiệm).
Nhân vật Thủ Thiệm khiến người ta cười thấm thía ý nghĩa xã hội như “Thủ Thiệm ở Chợ Được”, hay cãi kiểu “Giam đầu chứ không giam đít”… hẳn là người khó ưa với các quan lại, chức sắc hách dịch. Nhưng có khi ông cũng khó ưa với cả những người bình thường, là giới có học thức được vua ban phẩm tước, vì ông dùng phẩm màu bôi đầu các con gà, con chó rồi bảo đó là nhất phẩm, tam phẩm…
.jpg)
Thủ Thiệm cũng có lúc đùa quá lố với những chuyện tục nhằm quấy phá các bà nạ dòng, thầy bói mù, con hát, hoặc bóp vú đàn bà rồi hô "bớ cha chạy bớ cha" khiến người ta đuổi đánh oan một khách hàng đi đò. Có khi ông cà chớn cà rỡn trong cả những lúc cần nghiêm túc như việc cúng làng, đám hiếu hỉ của bà con, nên bị khó ưa. Vậy nên không dưng mà có lời đồn trong dân gian là ông chết bị chôn úp cho trừ cái tật hay châm chích (dù tích này được đính chính bởi con cháu ông -là không đúng - NV).

Đại Nam nhất thống chí (triều vua Duy Tân) có nhận xét người Quảng, rằng “sĩ phu có khí tiết cứng cỏi bạo nói, nhưng vì thổ lực không hậu mà thế nước chảy gấp nên tính người hay nóng nảy, ít trầm tính, duy có người nào có học vấn uyên thâm mới không bị phong khí ràng buộc”.
Khảo cứu vài ba nhân vật lịch sử để xem nhận xét trên thế nào, thì phần nói về "phong khí" khó biện giải, nhưng về tính cách, khí tiết thì nhiều phần rất chí phải.

Lần thứ nhất vào năm 1850, khi mới 29 tuổi và chỉ là chức quan nhỏ ở Tòa Kinh Diên (Phòng giảng sách cho nhà vua). Khi thấy nhà vua lơ là trong việc chính sự, ông đã dâng sớ “phê bình”. Lời lẽ trong tờ sớ được đánh giá là “không kiêng kỵ, na ná như tính tình của Thứ”, “trách vua với lời lẽ nặng nề”, nội dung như sau: “Lễ đại đình ít thấy ra triều thị, nhạc nội uyển kèn trống suốt cả đêm, nhà Kinh Diên lâu không tới giảng, chốn triều đình lâu không ban hỏi, thần tử ở bốn phương phủ huyện cũng lâu không được thừa chỉ thanh vấn. Lại nói: thái y phương thuốc điều hòa, thực cũng quá ư nghệ thuật, quần thần dâng sớ thỉnh an, vì tình khuất cả lời nói”. (Đại Nam Liệt truyện tập IV, quyển 34).
Khi ấy, vua Tự Đức mới 21 tuổi và mới lên ngôi được 3 năm, rất tức giận nên quyết định lột hết chức vụ của ông và đưa đi làm lính ở trạm Thừa Nông (Huế). May là lần này Phạm Phú Thứ được cứu bởi đức Từ Dũ, mẹ vua.
Rằng khi biết chuyện Phạm Phú Thứ bị biếm chức đày ra trạm coi ngựa, bà Từ Dũ hỏi Tự Đức: “Ông Phạm dâng sớ khuyên con, ông ta được cái gì?”. Vua đáp: “Dạ! Ông ấy không được gì cả. Nhưng con thấy làm bề tôi mà trách vua với lời lẽ nặng nề như thế là phạm thượng”. Bà hỏi tiếp: “Thế từ khi bị giáng làm lính, ông ta có tỏ lời oán hận gì không?”. “Con không nghe chuyện ấy. Nhưng biết rằng, ông ta mỗi chiều thường thả thuyền trên sông ngắm cảnh làm thơ ngâm vịnh”.
Nghe vậy, Từ Dũ liền nghiêm mặt bảo: “Thế người này đáng trọng lắm! Dâng sớ trách như vậy vì thương vua, vì muốn vua lo việc nước tốt hơn. Thương vua, giúp vua lại bị nạn mà không một lời than van, đành cam chịu thế càng tỏ dạ trung thành. Đó là bậc trượng phu không vui ở chức tước được người trên trọng hay khinh mà vui ở việc làm chân chính. Con nên nghĩ lại!”. Nhờ mẹ vua nói vậy mà Tự Đức cho Phạm Phú Thứ về kinh, phục lại chức Biên tu, chức vụ mà ông đảm nhận trước đó 8 năm, khi mới ra làm quan.
Lần thứ hai vào năm 1866, lúc này Phạm Phú Thứ đang là Thự (Quyền) Thượng thư Bộ Hộ. Rút kinh nghiệm lần trước, lần này Phạm Phú Thứ “mời” thêm ba vị đại thần uy tín cùng đứng tên trong bản tấu của mình và lời lẽ cũng “nhẹ nhàng” hơn. Sớ viết: “Rất mong hoàng thượng cân nhắc việc làm, bỏ bớt hư phí, mà chú ý chấn chỉnh việc thực… Hiện nay việc đánh giặc đã xong, biên giới tạm yên nhưng dân còn ốm chưa tỉnh hết, giặc Tàu chưa sạch hết, giặc biển chưa yên hết, việc phải làm của các bộ còn nhiều, xin hoàng thượng xét định kỹ càng, gìn giữ cẩn thận, giảm bớt đi chơi, trước làm việc dễ, sau làm việc khó, tu sửa nơi gần rồi đến nơi xa…”.
Cũng may, lần này Tự Đức không nổi giận như trước mà tự kiểm: “Các bậc đế vương tuyệt không vui chơi khó lắm, chỉ không dám bừa bãi mà thôi. Trẫm đức ít tài mọn chưa rõ mưu xa trị nước. Việc lỗi từ trước đã không lấy lại được, từ nay về sau vẫn muốn ít lỗi mà chưa được cho nên nhiều lần phê bảo đã thổ lộ hết, không giấu giếm gì, mà bụng nghĩ biết lỗi để sửa, chẳng lúc nào dám quên”! (Đại Nam thực lục, Tập 7, trang 1033 - 1035).
Một nhân vật mà cụ Phạm Phú Thứ từng tiến cử với vua nhưng có tính cách rất điển hình… khó ưa, là Ông Ích Khiêm (sinh 1829 tại làng Phong Lệ, tổng Thanh Quýt, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc Hòa Thọ Tây, phường Cẩm Lệ, Đà Nẵng).
Ông đỗ cử nhân khi mới 15 tuổi và làm quan dưới triều vua Tự Đức, từng giữ các chức như Tiễu phủ sứ, Sơn phòng sứ, Tả thị lang Bộ Binh… nổi tiếng là người văn võ song toàn, lập nhiều chiến công hiển hách. Chiến công lớn là khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, tấn công Đà Nẵng vào tháng 9/1858, ông đã sát cánh bên danh tướng Nguyễn Tri Phương chỉ huy nghĩa binh đánh Pháp.
Ông Ích Khiêm chỉ huy quân sĩ cùng với nhân dân đắp lũy, đào hào, thực hiện “vườn không, nhà trống” quyết không để quân Pháp tiến sâu vào nội địa. Trước sự ngăn chặn quyết liệt của nghĩa quân do Nguyễn Tri Phương và Ông Ích Khiêm chỉ huy, âm mưu của thực dân Pháp đã không thể thực hiện được.

Lần thứ nhất, trong một trận tiễu phỉ ở Đại Đồng (miền Bắc), Ông Ích Khiêm bị cách chức lưu nhiệm. Cuối năm 1874, ông lại được triều đình cho gọi vào kinh và giao chức Tán tương Quân vụ, đồng thời tiếp tục được cử ra Bắc lo việc dẹp giặc. Tuy nhiên, vốn là người "lắm tài, nhiều tật", trong khi chỉ huy quân đi tiễu phỉ, ông lại cự cãi với Tôn Thất Thuyết nên bị triệu về kinh chờ xét xử.
Trong khoảng thời gian chờ xét xử, ông mắc bệnh "tâm hỏa" nên triều đình cho về quê dưỡng bệnh. Không chỉ quan trường, mà trong sinh hoạt đời thường, Ông Ích Khiêm cũng rất rạch ròi phân biệt người tốt/kẻ xấu, nên bọn quan tham bị ông chửi nhiều lần. Có lần, để mắng chửi những vị quan vô tích sự, ông bảo người nhà làm thịt mấy con chó chế biến các món ăn cho thật ngon và chế biến sao đó để người ăn khó có thể phát hiện ra thịt gì.
Khi vào tiệc, có một vị quan cất tiếng: “Xin hỏi, hôm nay quan anh đãi món thịt chi mà ngon quá?”, ông mới trả lời: “Các quan không biết thiệt hả? Đó là thịt trung ngu chớ thịt chi”. Thấy các quan ngơ ngác không hiểu "trung ngu" là món gì, ông chen vào đứng giữa các dãy bàn vừa nói, vừa chỉ để cho mọi người dự tiệc đều nghe rõ: “Thưa các quan! Các bàn từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới đều là chó hết”. Chơi khăm và chửi đến như vậy bảo họ sao ưa cho được!
Rốt cuộc "tính cách tạo nên số phận" khiến Ông Ích Khiêm bị một số kẻ xấu hãm hại và đày vào nhà ngục Bình Thuận. Một phần vì phẫn uất, phần vì cuộc sống tù đày khổ cực nên sức khỏe giảm sút, ông đã qua đời vào mùa Thu 1884.

Tính trong khoảng đầu thế kỷ 20 trở lại đây, cũng có nhiều người Quảng hay cãi, trực tính và thuộc diện… khó ưa với những ai không đủ tầm trí thức và sự hiểu biết văn hóa. Có thể kể ra các vị tiêu biểu như: Phan Khôi, Nguyễn Thị Bình, Hoàng Tụy, Nguyễn Văn Xuân, mà kỳ lạ thay họ đều là mang trong mình huyết mạch của vùng đất phù sa Điện Bàn.

Cụ Phan Khôi thì đã rõ với câu người đời lưu truyền là "lý sự quá Phan Khôi", nay có cả bộ tổng tập mà nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân sưu tầm cũng chưa đủ kể hết. Phan Khôi có 10 năm (1896 -1906) là học trò của nhà Duy tân Trần Quý Cáp. Từ cậu bé 9 tuổi đến một thành niên 19 tuổi, là quãng đời mà Phan Khôi được thầy học bồi đắp tư tưởng, kiến thức, tâm hồn, nhân cách. Và, ở cái điểm nút trở thành thanh niên, nhân một ngày gặp cụ Phan Châu Trinh, Phan Khôi đã từ giã cái búi tóc “búi lại đằng sau ót như một cái đùm”.
Bằng việc cắt tóc và mặc âu phục theo trào lưu do Phan Châu Trinh khởi xướng năm 1906, Phan Khôi đã tỏ rõ hưởng ứng chủ trương duy tân, phản kháng sự cổ hủ. Với sự khai mở và tham gia nhiều cuộc bút chiến, tranh luận nảy lửa, Phan Khôi là điển hình của người Quảng “hay cãi”, nên có khá nhiều truân chuyên dành cho ông trong trường văn trận bút lẫn chính trị.

Câu chuyện về tư tưởng đấu tranh bất bạo động, ảnh hưởng bởi các nhà Duy tân, in dấu ấn ở Phan Khôi, khiến cho có lúc ông cô độc khi bạo lực trở thành phương cách thắng thế. Mối quan hệ với các nhân vật mà hành trạng lịch sử đầy khúc mắc làm cho những người cơ hội chủ nghĩa chỉ trích ông, thậm chí cô lập ông khi môi trường hoạt động văn hóa tư tưởng thay đổi.
Xuất thân Nho học, nhưng rồi đoạn tuyệt với cái học cũ, theo trào Duy tân, chuyển qua Tây học, ông đả phá nhiều quan niệm cũ, khiêu chiến với các học giả trên văn đàn cả nước trong ngàn bài bút chiến đủ mọi thể loại.

"Madam Bình" càng nổi tiếng tầm thế giới về… hay cãi. Là nói nôm na vậy, chứ thực ra bà Nguyễn Thị Bình được nhiều chính khách quốc tế đánh giá là nhà ngoại giao xuất sắc hàng đầu của Việt Nam ở thế kỷ XX. Cả một chiến trường - mặt trận ngoại giao đàm phán Hiệp định Paris, kéo dài từ 1968 đến 1973, người đàn bà nổi tiếng này đã làm cho dư luận thế giới khâm phục về bản lĩnh, trí tuệ, nhân cách.
Ngày 27/1/1973, bà Nguyễn Thị Bình là người phụ nữ duy nhất đặt bút ký vào Hiệp định Paris - một dấu mốc lịch sử, mở đường cho ngày thống nhất đất nước. Bà không chỉ đại diện cho tiếng nói của dân tộc trên bàn đàm phán, mà còn trở thành biểu tượng của bản lĩnh, trí tuệ, mềm mỏng nhưng kiên định của người phụ nữ Việt Nam khiến bao chính khách và nhà báo quốc tế, thậm chí cả người Mỹ phải kính phục.

Xem lại những thước phim tư liệu khi bà Nguyễn Thị Bình dùng tiếng Pháp đối đáp với các nhà báo kỳ cựu, chuyên gia phân tích chiến lược của các nước lớn, mới thấy tầm cao của nhà ngoại giao siêu việt này. Những câu nói giàu chất trí tuệ để đời của Madam Bình đến giờ giới nghiên cứu chính trị quốc tế hay nhắc lại là: "Người Mỹ có thể đưa người lên mặt trăng và trở về an toàn, còn sang Việt Nam thì chúng tôi không chắc", hay "không có nước Bắc Việt Nam, hay nước Nam Việt Nam, chúng tôi là một quốc gia"...
Với nhà bác học Hoàng Tụy, hậu duệ của Chí sĩ yêu nước Hoàng Diệu, có khí tiết, phẩm chất, tầm cao trí tuệ được thế giới kính nể. Hoàng Tụy đã tiếp bước truyền thống hiếu học, học giỏi của đất “Ngũ phụng tề phi”. Ngay gia đình ông có 7 anh em, trong đó có 5 giáo sư hàng đầu ở các lĩnh vực gồm: Hoàng Phê (Ngôn ngữ học), Hoàng Quý (Vật lý), Hoàng Kiệt (Mỹ thuật), Hoàng Tụy và Hoàng Chúng (Toán học).
Ông đã có phát minh "Tụy's cut" (lát cắt của Tụy), rồi "tối ưu toàn cục", đặt nền móng cho "vận trù học", tạo ra "trường phái toán học Hà Nội"... Lĩnh vực tri thức chuyên ngành, chuyên sâu như thế là miễn bàn thêm. Vấn đề là Hoàng Tụy vào những năm tháng cuối đời đã tham gia viện nghiên cứu chiến lược, tư vấn chính sách cho các nhà lãnh đạo hàng đầu đất nước như Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, và ông luôn "cãi và cải" để hình thành các quyết sách về giáo dục, đào tạo, với khát vọng “Chấn hưng, Cải cách, Hiện đại hóa Giáo dục”.

Nhưng GS. Hoàng Tụy vẫn dồn hết tâm huyết để làm khoa học, trăn trở với việc ứng dụng khoa học để làm giàu mạnh đất nước. Đặc biệt, ông đã dành nhiều năm tháng vun đắp việc trồng người, miệt mài làm tấm gương trong sáng, quy tụ nhiệt huyết của giới trí thức để kiến nghị chấn hưng sự nghiệp giáo dục. Chính vì điều đó mà GS. Nguyễn Đăng Hưng - một nhà cơ học xuất sắc châu Âu, Giáo sư Ưu tú của Vương quốc Bỉ, đánh giá: “Lịch sử trí thức Việt Nam sẽ không quên một người sinh ra cách quê tôi có một cánh đồng: người ấy có tên là Hoàng Tụy”.
Có một người thầy gần gũi với giới nghiên cứu học thuật về xứ Quảng là học giả Nguyễn Văn Xuân. Giới học thuật đã tôn vinh ông với những công trình tiêu biểu như Phong trào Duy tân, Khi những lưu dân trở lại, Dịch cát, Bão rừng, Kỳ nữ họ Tống… và gần đây, đã có bộ Tuyển tập Nguyễn Văn Xuân ra đời.

Đọc và học Nguyễn Văn Xuân, có lẽ ai cũng cảm nhận sự hấp dẫn bởi những kiến giải độc đáo. Chữ “độc đáo” thầy hay dùng, mà nhớ có lần về thăm học trò trường Nguyễn Duy Hiệu - Điện Bàn, thầy nói sự học phải tìm “độc đạo” để có “độc đáo”, phải có con đường riêng, khai phá, sáng tạo. Như nhắc đến chuyện “Ngũ phụng tề phi”, thầy có lối nghĩ khác: “Ba tiến sĩ, hai phó bảng cùng đỗ một khoa thi thì cũng đúng là “năm con phượng cùng bay”.
Nhưng trong việc học, bằng cấp cao đến đâu cũng chỉ đánh dấu sự khởi đầu... Điều quan trọng nhất của việc học hành, chính là đậu để làm gì? Để lập sự nghiệp. Năm nhà đại khoa đó có sự nghiệp chính trị, văn hóa, học thuật nào? Tôi không thấy. Vậy ta nên coi đó là giai thoại giúp cho các bạn trẻ phấn chấn hơn trong việc học hành”.
Bởi cách nhìn như vậy nên thầy Xuân tỏ sự kính phục 6 vị tiền bối mà ông gọi là “Lục phụng bất tề phi”. Đó là: "Phạm Phú Thứ, đỗ song nguyên (cử nhân, tiến sĩ đầu) khi sang Pháp chuộc ba tỉnh miền Đông Nam Bộ, đã chuyên tâm viết bộ du ký lừng lẫy (Tây hành nhật ký) đến nay còn giá trị đối với lịch sử trong nước và thế giới. Vậy mà lúc về, ông không quên mang theo về cái xe đạp nước kéo bằng trâu theo kiểu mẫu Ai Cập, gọi là xe trâu.
Phan Châu Trinh khi ở Côn Đảo là tay câu cá giỏi, sang Pháp là “sếp” một câu lạc bộ câu cá và kiếm sống bằng nghề thợ ảnh đồng thời là tác giả nhiều chuyên luận chính trị vang động giới chính trị Paris (Việt và Pháp). Tiến sĩ Trần Quý Cáp chuyên nghề bút canh (Cày ruộng bằng bút) là thầy đồ tiếng tăm, cả các tỉnh Nam ra học và nhờ đó ông mới hướng đạo được cuộc Nam du của ba danh sĩ (Phan, Huỳnh, Trần), đã là bậc giáo thọ tử vì đạo.
Nguyễn Ái Quốc trong "Bản án chế độ thực dân Pháp" đã đề cao: “Ông nghè Trần Quý Cáp, một nhà nho thanh cao ai cũng kính phục”. Huỳnh Thúc Kháng (cũng song nguyên) là người học trò nức tiếng thuở trẻ. Khi đi tù Côn Đảo, ông học làm đồi mồi và quản lý sở buôn. Trở về đất liền trên tay có bộ từ điển Pháp - Việt mà người ta bảo ông học thuộc lòng từ đầu chí cuối.
Với nghề đồi mồi, ông đã thực hành và đưa các mặt hàng mỹ nghệ nữ trang đi chào để xuất khẩu sang Pháp và sau này, ông tự quản lý Công ty Huỳnh Thúc Kháng và lập báo Tiếng Dân. Cũng cần nhắc thêm, năm 1905, ba nhà đại khoa này đã giúp Phan Thiết lập Công ty nước mắm Liên Thành đầu tiên. Còn Phạm Như Xương (hoàng giáp) là người đỗ cao nhất miền Nam, hành xử như một đại trí thức. Học như thế mới gọi là học, và nêu cái gương học vấn cho dân, cho nước. Lục phụng này mới thật là phụng hoàng không thẹn cùng nhật nguyệt”.
Theo thầy Xuân “đó mới thực sự nêu gương cho người Quảng Nam và Việt Nam để tuổi trẻ biết thế nào là “học và hành”.

Kể theo cách liệt kê thì hẳn còn nhiều chuyện, nhiều nhân vật "Người Quảng… khó ưa" nữa, không thể kể hết, nên những điểm xuyết trong bài này chỉ nhằm chủ đích nêu bật lên tính cách Quảng. Những cái gàn, cái ngạnh, sự hay cãi và cải, làm nên nét độc đáo khó trộn lẫn từ giới bình dân đến bậc học giả, trí thức, khiến đôi khi chúng ta phải giật mình thốt lên niềm kính phục, tự hào, hoặc tự trào với những mặt hay/dở của tính cách con người ảnh hưởng bởi long mạch vùng đất "chưa mưa đà thấm".

Nói gàn thì như dây khoai lang thích bò ngang luống vồng.
Nói ngạnh thì như… ngạnh cá trê, cá ngạnh, ai chụp bắt lấy không khéo thì bị chích vào tay đau nhức đến mấy ngày.
Nói hay cãi, là khả năng tranh biện, nổi tiếng làm nhà ngoại giao, tướng lĩnh, học giả, bác học, còn khó nhọc hơn thì đi làm thầy cãi - luật sư, nhà báo, rảo bước khắp cả nước, ra cả thế giới.
Với mặt hay, tích cực, dễ ưa của tính cách dĩ nhiên được nhiều người mến thương muốn gần gũi. Còn nếu nói có mặt "khó ưa" của bậc anh tài, trí thức, học giả mà khó ưa thì thực ra là chỉ sự "độc đạo", độc đáo, nhiều khi cô đơn trong sáng tạo. Đó là những người tâm sáng, đức cao, trí tuệ siêu việt, chứ những ai làng nhàng mà học đòi cái tánh khó ưa chỉ tổ thiệt thân, càng bị ghét thêm.
Ngẫm ra cuộc đời những anh tài hào kiệt thường có tâm thế đứng một cõi chênh vênh, người ưa thì công kênh tôn vinh lên đỉnh hết mức, kẻ ghen ghét lại vùi dập, như ứng với câu Kiều "rằng hay thì thật là hay/ nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào".
Cho nên kẻ hậu sinh cần nhớ lời di huấn của Ông Ích Khiêm, để những ai có cốt cách hay cãi và ngang ngạnh cần có cách ứng xử cho phù hợp: “… tự nghĩ từ nay về sau các con phải giữ gìn lời ăn, tiếng nói, chớ coi nhẹ ngôn từ. Hãy lấy ta làm gương thì sẽ tránh được điều họa…”.
