Thời gian qua, tận dụng tối đa lợi thế địa phương, nhiều hộ dân mạnh dạn đưa vào nuôi các loài thủy sản nước ngọt có giá trị kinh tế cao, giúp nâng cao thu nhập và hiệu quả kinh tế trên cùng diện tích canh tác.

Nâng cao đời sống
Bà Phạm Thị Nhung (tổ 8, thôn Khương Mỹ, xã Hòa Vang) hiện nuôi 2 ao cá nước ngọt với diện tích 4.000m2. Trong đó, một ao bà Nhung nuôi cá diêu hồng với 5.000 con và xen canh cá thát lát 3.000 con, cá lăng 1.000 con, cá diếc 2.000 con; ao còn lại nuôi 2.000 cá trắm cỏ.
Theo bà Nhung, trước khi nuôi cá, diện tích đất này bà làm ruộng, tuy nhiên năng suất không cao. Từ năm 1998, bà được nhà nước hỗ trợ đào ao và con giống để nuôi thủy sản nước ngọt. Bà còn được Chi cục Nông nghiệp (cũ) và Trung tâm Khuyến nông thành phố hỗ trợ, tập huấn về kỹ thuật nuôi.
“Trước đây là hộ nghèo, nhưng từ khi nuôi cá thì gia đình tôi đã có kinh tế ổn định, vươn lên thoát nghèo bền vững. Tôi nuôi xen canh như thế này giúp tiết kiệm thời gian, tận dụng hiệu quả ao nuôi, hiệu quả kinh tế cũng cao hơn so với nuôi riêng một loại cá. Trung bình mỗi năm gia đình tôi thu lãi ròng khoảng 80-100 triệu đồng từ mô hình này”, bà Nhung cho hay.
.jpg)
Tại vùng nuôi cá nước ngọt Hòa Khương (xã Hòa Tiến), ông Hồ Văn Mười nuôi cá trê lai đã được hơn 10 năm nay với diện tích ao nuôi gần 3.000m2. Ông cho biết: “Trê lai là loại cá dễ nuôi nhất trong các loại cá nước ngọt. Có điều kiện thay nước thường xuyên thì cá nhanh lớn và hạn chế dịch bệnh. Mỗi vụ có thời gian nuôi trung bình 7-10 tháng”.
Vùng này hiện có hơn 300 hộ nuôi cá nước ngọt các loại như trê lai, thát lát, trắm cỏ, rô phi… với diện tích mặt nước hơn 62ha. Nơi đây có hệ thống cấp nước của hồ Đồng Nghệ đi qua nên rất thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản. Chính quyền xã Hòa Tiến còn triển khai nhiều giải pháp nhằm tăng cường kết nối tiêu thụ sản phẩm giữa hộ nuôi trồng với các hợp tác xã trên địa bàn, qua đó giúp người dân giải quyết được tình trạng “thừa cung, thiếu cầu”.
Trong khi đó, tận dụng nguồn nước thuận lợi ở các con sông, người dân thả lồng để nuôi các loại cá diêu hồng, bớp, chẽm, dìa, mú... Anh Đặng Ngọc Phi Long (xã Đại Lộc) hiện nuôi 70 lồng cá diêu hồng trên sông Yên, mỗi lồng diện tích 36m2. Triển khai mô hình từ năm 2016, lúc đầu chưa có kinh nghiệm nên hiệu quả không cao, nhưng đến nay việc nuôi cá của anh Long đã trở thành nguồn thu nhập chính của gia đình.
Bình quân mỗi năm, anh Long bán ra thị trường khoảng 150 tấn cá, thu nhập hơn 50 triệu đồng/tấn. Cá diêu hồng thả lồng bè thường được nuôi từ 6-7 tháng là có thể xuất bán, tùy từng thời điểm giá bán ra dao động từ 40.000 - 50.000 đồng/kg.
Phát triển theo hướng bền vững
Theo thống kê, diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt trên địa bàn thành phố khoảng 5.157ha. Trong đó nuôi hồ chứa khoảng 3.900ha, nuôi ao đất 1.257ha với hình thức nuôi chủ yếu là đánh tỉa, thả bù đối tượng nhóm cá truyền thống (cá mè, cá trôi, cá trắm, cá chép), rô phi...

Về nuôi cá lồng, có khoảng 600 lồng/bè nuôi (60-75m3/lồng) trên các nhánh sông và các hồ chứa thủy điện, thủy lợi; nhóm đối tượng cá nuôi chủ yếu là rô phi, diêu hồng và các loài truyền thống (trắm, trôi, mè, chép), cá lóc, cá trê và một số loài đặc sản khác như cá chình, lăng nha và ếch…
Sản lượng cá nước ngọt thương phẩm trên toàn thành phố đạt 9.000 tấn/năm; trong đó nuôi lồng/bè đạt 950 tấn, nuôi ao và hồ chứa đạt 8.050 tấn. Thị trường chủ yếu của cá nước ngọt xuất bán đi các chợ, nhà hàng, quán ăn trong thành phố và một số tỉnh phía bắc như Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Bình…
Chi cục Biển đảo và Thủy sản Đà Nẵng (Sở Nông nghiệp và Môi trường) đã tăng cường các nhiệm vụ, giúp nâng cao hiệu quả nhà nước về nuôi trồng thủy sản, tạo điều kiện thuận lợi để người dân tiếp cận kiến thức về kỹ thuật, hàng hóa, vật tư và dịch vụ có chất lượng để phát triển sản xuất.
Bên cạnh những kết quả tích cực, hiện nay, hệ thống công trình hạ tầng vùng nuôi vẫn còn sơ sài, sản xuất thủy sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và thời tiết nên chịu rủi ro cao (thiên tai, dịch bệnh...); đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ lĩnh vực thủy sản đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn, nên phần lớn người dân không đủ khả năng tiếp cận; thị trường tiêu thụ của sản phẩm không ổn định…
Chi cục Biển đảo và Thủy sản cho biết, thời gian đến, ngành thủy sản thành phố chú trọng xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển sản xuất nuôi trồng thủy sản. Trong đó ưu tiên đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng thiết yếu, đặc biệt là hệ thống lưới điện, thủy lợi nhằm khuyến khích người dân, doanh nghiệp đầu tư sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và đảm bảo phát triển bền vững.
Đồng thời chú trọng tạo mối liên kết giữa người nuôi với doanh nghiệp chế biến trong bao tiêu sản phẩm; hỗ trợ người nuôi thực hiện các mô hình nuôi theo hướng bền vững, áp dụng khoa học công nghệ mới, tiên tiến, thân thiện môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu góp phần làm tăng giá trị sản xuất thủy sản, năng suất tăng, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Ngoài ra, ngành triển khai thực hiện hiệu quả công tác quan trắc, cảnh báo thiên tai, môi trường, dịch bệnh thủy sản nhằm hỗ trợ người dân hạn chế rủi ro trong sản xuất.