Người xứ Quảng

Sáng mãi tinh thần thực học!

BÙI VĂN TIẾNG • 27/09/2026 08:10

ĐNCT - Tinh thần thực học là một trong các sợi chỉ đỏ xuyên suốt Phong trào Duy tân đầu thế kỷ XX do “bộ ba Quảng Nam” (chữ của Hồ Tá Khanh trong Thông sử Công ty Liên Thành, Paris, 1983) - Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng - khởi xướng và lãnh đạo.

tieng-dan-222.jpg
Báo Tiếng Dân số 675 ra ngày 21/3/1934. Ảnh: Bảo tàng Đà Nẵng

Cùng xuất thân từ trường đốc Thanh Chiêm của Tiến sĩ Trần Đình Phong, Phan Châu Trinh thi đỗ Phó bảng khoa Tân Sửu 1901, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng thi đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Thìn 1904.

Năm Ất Tỵ 1905, ba nhà khoa bảng đồng hương Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng rủ nhau thực hiện một chuyến Nam du đến tận Phan Thiết, và trên đường đi đã dừng chân tại trường thi hương Bình Định. Và tinh thần thực học của “bộ ba Quảng Nam” nhanh chóng được quảng bá trong đông đảo sĩ tử đang dự khảo hạch ở đây qua bài thơ Chí thành thông thánh và bài phú Lương sơn danh ngọc mà ba ông sáng tác tại chỗ - bằng bút danh Đào Mộng Giác - dựa vào hai đề thi ngày hôm ấy.

Thực học để có khả năng sáng tạo thực sự

Tinh thần thực học này thể hiện rõ nhất qua lời cảnh tỉnh trong hai câu thực của bài thất ngôn bát cú Đường luật Chí thành thông thánh: Vạn dân nô lệ cường quyền hạ/ Bát cổ văn chương thụy mộng trung - Muôn dân (đang) làm tôi tớ dưới ách cường quyền/ (Mà) nhiều người (vẫn cứ) ngủ mê trong giấc mộng văn chương bát cổ.

“Bát cổ văn chương” ở đây chính là sản phẩm của nền giáo dục phi thực học mà “bộ ba Quảng Nam” từng trải nghiệm và kêu gọi học giới nước nhà từ bỏ để đi theo con đường thực học đang được Phong trào Duy tân đất Quảng vận động và tổ chức.

Tinh thần thực học ấy cũng sắp được trực tiếp thể hiện ngay trong các trường học duy tân/nghĩa thục của Phong trào Duy tân chuẩn bị hình thành từ đất Quảng sau chuyến Nam du này và sẽ mở rộng ra phạm vi cả nước.

Chỉ trong vòng hai năm từ Bính Ngọ 1906 đến Đinh Mùi 1907, trường học duy tân/nghĩa thục được mở ở nhiều nơi, nổi tiếng như các trường Diên Phong, Bảo An, Phú Bông, Quảng Huế, La Châu, Lạc Thành, Quảng Phước, Phước Bình, Phú Lâm... ở đất Quảng, như trường Dục Thanh ở Phan Thiết và như Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội.

Nói chung, số phận lịch sử của các trường học duy tân/nghĩa thục này quá ngắn - kể cả trường Dục Thanh, chưa đủ để có thể hình dung người học khi tốt nghiệp ra trường có được nhận bằng cấp gì không. Nhưng có lẽ từ người chủ trương mở trường, người dạy cho tới người học, chắc không ai nghĩ rằng vào học tại các nhà trường duy tân/nghĩa thục là cốt để giành được một bằng cấp nào đó. Vì lý do rất giản đơn thôi: Nội dung học tập đã khác trước! Cũng có thể hiểu ngược lại: Nội dung học tập khác trước là bởi mục đích học tập đã hoàn toàn không giống trước.

Theo tư duy giáo dục của “bộ ba Quảng Nam”, người dân bấy giờ đi học ở các nhà trường duy tân/nghĩa thục là để được biết mình có những quyền gì, và cũng là để được biết mình chưa hề được hưởng những quyền ấy. Đương nhiên, đi học ở các nhà trường duy tân/nghĩa thục còn là để biết chữ - chữ Quốc ngữ thậm chí chữ Pháp, biết buôn bán và biết nhiều thứ khác nữa.

Đi học mà cốt để biết những điều cần biết, đi học mà không bị sức ép của bằng cấp và đi kèm là sức ép của thi cử đè nặng, người học dễ đến gần với thực học hơn - thực học ở đây vừa được hiểu là học thực sự - chiếm lĩnh tri thức thực sự và có khả năng sáng tạo thực sự; lại vừa được hiểu là học gắn liền với thực tiễn đời sống, tức là gắn liền những gì thiết thân với số phận của cộng đồng, với đòi hỏi bức xúc của nhân dân.

Đây là thời điểm mà ngay bản thân Tiến sĩ Huỳnh Thúc Kháng cũng còn phải học chữ Quốc ngữ nhằm trực tiếp kích hoạt cho Phong trào Duy tân. Huỳnh Thúc Kháng từng tái hiện trong hồi ký của mình: “Năm 29 tuổi đỗ tiến sĩ; 31 tuổi bắt đầu học chữ Quốc ngữ...”.

Không ngừng quảng bá tinh thần thực học/thực nghiệp

Sau vụ Trung Kỳ dân biến năm Mậu Thân 1908, Trần Quý Cáp bị Pháp và Nam triều xử chém ngang lưng ở Khánh Hòa, còn Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng cùng bị đày ra Côn Đảo. Đến năm Tân Hợi 1911, sau khi bị đưa vào an trí tại Mỹ Tho, Phan Châu Trinh xin sang Pháp, và năm Ất Sửu 1925 lại trở về Sài Gòn cùng Nguyễn An Ninh, rồi qua đời vào năm Bính Dần 1926.

Đôi guốc mộc cùng những kỷ vật từng gắn với cụ Huỳnh được lưu giữ tại Khu lưu niệm Trụ sở Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Trung bộ ở Quảng Ngãi. Ảnh: TRƯỜNG SƠN
Đôi guốc mộc cùng những kỷ vật từng gắn với cụ Huỳnh được lưu giữ tại Khu lưu niệm Trụ sở Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Trung bộ ở Quảng Ngãi. Ảnh: TRƯỜNG SƠN

Huỳnh Thúc Kháng mãn hạn tù Côn Đảo vào năm Tân Dậu 1921, trở thành người duy nhất trong “bộ ba Quảng Nam” có điều kiện tiếp tục quảng bá tinh thần thực học trên Báo Tiếng Dân - tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên của miền Trung mà ông là chủ nhiệm kiêm chủ bút - suốt từ năm Đinh Mão 1927 lúc ra số báo đầu tiên cho đến khi bị Pháp đình bản vào năm Quý Mùi 1943.

Một khi đã dấn thân làm báo chuyên nghiệp - không chỉ viết báo như người đồng hương Huỳnh Thị Bảo Hòa xuất thân Tây học mà còn và chủ yếu là quản lý tờ báo (đương nhiên với sự hỗ trợ đắc lực của các cộng sự thân tín như Nguyễn Xương Thái, Đào Duy Anh, Trần Đình Phiên - con trai của Đốc học Trần Đình Phong), muốn “truyền lửa” về tinh thần thực học, Huỳnh Thúc Kháng cũng phải tiên phong thực học bằng cách… tự học nghề làm báo.

Năm Kỷ Sửu 1949, sau khi Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng qua đời, một trường dạy làm báo mang tên ông được mở ở khu rừng Bờ Rạ thuộc tỉnh Thái Nguyên trên chiến khu Việt Bắc, nhưng để làm báo Tiếng Dân ở kinh thành Huế, bản thân nhà báo Huỳnh Thúc Kháng chưa từng được theo học trường dạy làm báo nào ngoài môi trường tự học.

Đáng chú ý là quá trình tự học chữ Pháp. Về chuyện này nhà báo Huỳnh Thúc Kháng không phải bắt đầu từ số không tay trắng.

Cũng trong hồi ký, cựu tù chính trị Huỳnh Thúc Kháng kể rằng: “... Công dịch rảnh, tôi cùng Tập Xuyên (là hiệu của người bạn tù Ngô Đức Kế cùng mãn hạn tù Côn Đảo năm Tân Dậu 1921, cũng trở thành nhà báo và qua đời năm Kỷ Tỵ 1929 ở Hà Nội) lo học tập chữ Tây; ngày sau tôi có đem về cuốn Tự điển Việt - Pháp của Trương Vĩnh Ký; sau có mua thêm sách giáo khoa mấy quyển. Tôi biết được một ít chữ Tây, bắt đầu từ đó”.

Nhưng chừng đó vẫn chưa đủ, vẫn đòi hỏi Huỳnh Thúc Kháng phải tiếp tục tự học, và hàng chục năm làm Báo Tiếng Dân chính là môi trường tự học tiếng Pháp thực sự hiệu quả của Huỳnh Thúc Kháng.

Đương nhiên, do chỉ có điều kiện học ngoại ngữ qua môi trường tự học như vậy nên Huỳnh Thúc Kháng cũng từng thừa nhận trên Báo Tiếng Dân ngày 14/6/1930 qua bài giới thiệu học thuyết của nhà triết học người Mỹ khai sinh ra giáo dục thực nghiệm John Deway rằng: “Tuy chúng tôi học bằng con mắt và bộ não nên nghe và nói tiếng Tây hay sai vận và không được lanh lẹ; song đọc sách hiểu nghĩa, đặt câu và phiên dịch, biết được đại khái”.

Đây cũng là thành quả rất đáng trân trọng của một người luôn gương mẫu và tích cực cổ súy tinh thần thực học/tinh thần tự học.

Và trên báo nhà, nhà báo Huỳnh Thúc Kháng vẫn không ngừng quảng bá tinh thần thực học/thực nghiệp đến đông đảo độc giả của Tiếng Dân.

Huỳnh Thúc Kháng nêu rõ việc dạy - học trong nhà trường cũng phải hết sức đề cao tinh thần thực học/thực nghiệp: “... Giáo dục phải trọng mặt lợi dụng (ngày nay hiểu là “thực dụng”). Trong nước người nào cũng phải biết một nghề, kỹ nghệ là nghề, khảo cứu là nghề, trước thuật cũng là nghề. Muốn công nghệ được thịnh thầy giáo phải biết trọng khiếu riêng của thiếu niên”; và nhấn mạnh: “Ra ở đời, nhiều điều có học mà vô dụng, nhiều điều xã hội cần thời lại không biết. Như thế là vì hoàn cảnh của học đường là một hoàn cảnh đặc biệt, chỉ có không khí viển vông mà không có không khí thiết thực, vì thế phải dạy thực hành (pratique) trước rồi dạy lý luận (théorie) sau và phải dùng phép thực nghiệm (expérience) để dạy hơn là dùng sách”….

Nhân kỷ niệm 150 năm ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng, bước đầu nhìn lại hành trình thể hiện tinh thần thực học của Huỳnh Thúc Kháng với tư cách một thành viên “bộ ba Quảng Nam” từng khởi xướng và lãnh đạo Phong trào Duy tân đất Quảng đầu thế kỷ XX, với tư cách một cựu tù chính trị Côn Đảo với tấm thẻ bài bằng gỗ hình vuông ghi số hiệu 7.455, và với tư cách một nhà báo yêu nước, chủ nhiệm kiêm chủ bút Báo Tiếng Dân, có thể thấy tinh thần thực học Huỳnh Thúc Kháng thật đáng ngưỡng mộ! Sáng mãi tinh thần thực học Huỳnh Thúc Kháng!

(0) Bình luận
x
Nổi bật
Sáng mãi tinh thần thực học!
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO