Với người dân xứ Quảng, ngước mắt về phía tây là chạm dãy Trường Sơn. Nơi bóng núi trập trùng mang màu sắc huyền thoại ấy, cha ông ta đã viết nên bao kỳ tích hào hùng.

Và cũng từ dãy Trường Sơn kỳ bí, những câu chuyện cổ tích được viết nên giữa đời thường bởi những người đi gieo chữ chữ nơi rừng nguồn.
Tìm chữ trong bùn đất
Chúng tôi ngược rừng lên huyện Nam Trà My cũ giữa cao điểm mùa lũ lụt. Mưa tối trời, nước từ núi cao tuôn xuống như thác đổ. Từ trung tâm thành phố Đà Nẵng, đi vòng nhiều cung đường, mất gần nửa ngày, chúng tôi mới đến được xã Trà Linh. Ở độ cao hơn 1.500 mét so với mực nước biển, những ngôi trường vùng cao chông chênh giữa mây trời và gió núi.
Khi chúng tôi đến nơi, cả cô trò và 34 em học sinh, trong đó 14 học sinh lớp 1 và lớp 2 vừa sơ tán khẩn cấp khỏi trường. Toàn bộ bàn ghế, dụng cụ dạy học được dân làng đưa đi gửi nhà người dân, đề phòng trường bị sạt lở. Đây là một trong hàng chục điểm trường vùng cao phải chạy núi lở trong đợt mưa lũ lịch sử đầu tháng 11.
Hành trình đến trường, tìm con chữ quá gian nan, có khi phải đánh đổi bằng mồ hôi và cả sự an nguy trên mỗi bước chân lấm lem bùn đất. Nhưng rồi nơi ấy, cứ đến ngày 20/11, món quà mà thầy cô giáo nhận được là quả bí, bó rau và cả những cánh hoa rừng.
Tôi đã chứng kiến, 20/11, thay vì nhận quà của học sinh, thầy cô giáo ở Trà Leng mua kẹo bánh tặng cho các em. Ở miền núi cao, mỗi học sinh biết đọc, biết viết, biết thổ lộ những ước mơ cũng là món quà lớn nhất của những người đi gieo chữ nơi lưng chừng trời này.
Cuối tháng 10, chúng tôi đi bộ từ xã Đắk Nên, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum cũ (nay là xã Măng Bút, tỉnh Quảng Ngãi) xuôi theo sườn núi Ngọc Linh về xã Trà Vân của thành phố Đà Nẵng. Do chồng lấn địa giới hành chính giữa hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam trước đây, hơn 1.300 nhân khẩu thôn 3 xã Trà Vinh không được đầu tư đường sá, trường học và mạng viễn thông.
Ở làng, các em học lớp 1 và lớp 2. Nhưng khi lên lớp 3, các em phải đi bộ từ làng ra trường xã học bán trú. Quãng đường từ nhà đến trường hơn 10km nhưng đi bộ mất 3 tiếng đồng hồ. Con đường xuyên qua rừng già, băng qua hàng chục con suối. Mỗi khi mưa lớn, nước suối dâng cao, nhiều em không thể về nhà.
Gần cuối tháng 10, tin bão lũ khẩn cấp, các trường vùng cao nhanh chóng cho học sinh nghỉ học. Nhà ở cách trường vài giờ đi bộ, sợ bị kẹt giữa rừng, nhiều em chạy bộ về nhà. Có em chạy mất cả dép, không áo mưa, người ướt sũng nhưng vẫn nở nụ cười hồn nhiên. Thấy tôi từ trong rừng ra, các em dừng lại chào hỏi rồi chạy tiếp. Nhiều em chưa ăn gì, trên tay cầm đoạn mía rừng, vừa chạy, vừa ăn… Tôi ghé tạp hóa nhỏ đầu làng, mua toàn bộ số dép hiện có, được khoảng 40 đôi, gửi lại cho chị chủ tạp hóa. Tôi nhắn gửi, hết lũ, khi các em đến trường, em nào không có dép, nhờ chị gửi tặng cho các em.
Và như thế, những con đường đầy bùn đất in dấu những bàn chân nhỏ bé, chai sạn. Điều gì thôi thúc các em băng rừng, lội suối đến trường cho dù đôi chân rã rời, bụng đói cồn cào giữa mênh mông rừng núi. Phải chăng, đó chính là khát khao đi tìm con chữ?
Các thầy cô giáo vùng cao thường dạy, con đường đến trường là con đường xóa mù chữ. Con đường xóa mù chữ là con đường xóa đói, giảm nghèo. Không ai khác, chính các thầy cô giáo là tấm gương với hành trình đi tìm con chữ để các em tiếp bước đến trường.

Thầy cô giáo tại chỗ - tấm gương và khát vọng
Tại thôn 3 xã Trà Vinh (cũ) có một điểm trường tiểu học và trường mầm non. Trước đây, thầy cô giáo ở đồng bằng lên đây dạy học, đi bộ mất nửa ngày mới đến trường. Không điện, đường và không sóng điện thoại, nhiều thầy cô giáo bám trụ vài năm rồi xin chuyển trường. Năm năm nay, việc dạy học tại các điểm trường xa xôi đều do thầy cô giáo tại chỗ phụ trách. Các thầy cô giáo cũng từng chạy bộ đến trường tìm chữ, nay lại gieo chữ, gieo ước mơ cho học sinh nơi đại ngàn này.
Từ học sinh vùng cao trở thành thầy cô giáo là một chặng đường được viết bằng những kỳ tích. Mỗi ngày đến trường dạy học sinh, thầy cô giáo lại thấy bóng dáng của chính mình của những năm tháng đến trường. Và mỗi khi đến lớp, học sinh lại khát khao, ước vọng được như thầy cô giáo đang đứng trước mặt mình. Và nơi ấy, thầy cô giáo và cả học sinh hòa quyện cùng một ước mơ, một khát vọng để con đường tìm con chữ bớt gian nan.
Tại hơn 30 xã vùng núi thành phố Đà Nẵng hiện nay, phần lớn các trường tiểu học và THCS là trường bán trú. Theo quy định, trường bán trú, chế độ ăn uống của học sinh mỗi ngày chỉ có 1 bữa trưa. Mỗi tháng, tiền ăn được cấp là hơn 900 ngàn đồng. Nhưng học sinh ở xa, nhiều em đi học từ lúc 4 giờ sáng, chiều về nhà cũng đã 7 giờ tối. Có em còn đùm cơm để ăn dọc đường. Vậy là thầy cô giáo trường bán trú sáng kiến, chia tiền ăn một ngày hơn 30 ngàn đồng thành 3 bữa để các em ở lại trường cho tiện việc dạy học.
Để có bữa cơm 10 ngàn đồng đầy đủ dinh dưỡng, thầy cô giáo vùng cao phát động phong trào tăng gia sản xuất, trồng rau xanh quanh trường. Việc mua sắm thức ăn cũng cân nhắc để đảm bảo bữa cơm 10 ngàn đồng vừa đủ dinh dưỡng và đảm bảo vệ sinh. Theo các thầy cô giáo ở vùng núi cao, nếu không linh động chuyển đổi mô hình bán trú thành nội trú, để học sinh đến trường ăn mỗi ngày một buổi thành ba buổi thì khó mà giữ chân được học sinh.
Ở vùng núi cao bốn mùa mây giăng kín đó, ánh sáng từ những ngôi trường vẫn soi rọi cho các em đến lớp. Con đường đến trường chưa phải là con đường duy nhất nhưng là con đường ngắn nhất để học sinh vùng cao trưởng thành.