“Chín xã sông Con” là vùng quê sơn thủy hữu tình nằm về phía Tây của đất Quảng với những trầm tích văn hóa - lịch sử được “phát lộ” qua những câu chuyện nhuốm màu huyền tích, những giai thoại dân gian kỳ thú…

“Tiếng đồn Tú Đỉnh sông Con…”
Về làng Trúc Hà, chúng tôi được nghe kể rằng, sự ra đời địa danh nổi tiếng “Chín xã sông Con” gắn liền với phong trào Nghĩa hội Quảng Nam (1885 - 1887).
“Chín xã sông Con” gồm: Hà Tân, Hoằng Phước, Trúc Hà, Trung Đạo, Mậu Lâm, Thạnh Đại, Đại Mỹ, Chấn Sơn (Non Tiên) và An Điềm, nay thuộc xã Thượng Đức, thành phố Đà Nẵng.
Tương truyền, Tán tương Quân vụ Trần Đỉnh (Tú Đỉnh) được Hội chủ Nguyễn Duy Hiệu phân công lãnh đạo nghĩa quân cánh Bắc (miền Tây Đại Lộc, Hiên và Giằng). Ông trực tiếp chỉ huy xây dựng căn cứ “Chín xã sông Con”.
Căn cứ này có ưu thế là nằm sâu trong rừng núi phía Nam và Tây Bắc của tỉnh Quảng Nam (cũ). Từ đây, có thể vào miền núi Gia Lai, Kon Tum hoặc ra Thừa Thiên, Quảng Trị dễ dàng. Đây là căn cứ thứ hai của Nghĩa hội, sau căn cứ Trung Lộc, còn gọi là Tân tỉnh.
Từ căn cứ “Chín xã sông Con”, nghĩa quân đã nhiều lần xuất kích, tổ chức những trận đánh Pháp oanh liệt như trận trên cánh đồng Gia Cốc (vùng B Đại Lộc trước đây) và Trà Kiệu (Duy Xuyên trước đây), khiến giặc Pháp nhiều phen ăn ngủ không yên.
Từ năm 1886, phong trào Nghĩa hội Quảng Nam gặp nhiều tổn thất. Có giả thuyết, Tú Đỉnh nghĩ đến kế trá hàng để bảo toàn lực lượng chờ thời cơ và mạnh dạn đề đạt ý kiến lên Hội chủ. Thế nhưng, ông lại bị Nguyễn Duy Hiệu nghi ngờ là có “nhị tâm” và bị triệu gấp về Trung Lộc xử chém.
Mất người chỉ huy, căn cứ “Chín xã sông Con” nhanh chóng tan vỡ. Đến nay, trong dân gian vẫn còn truyền khẩu câu ca như lời ai oán: "Tiếng đồn Tú Đỉnh sông Con/ Nghe lời Đồng Khánh lên non mất đầu…".
Khi Hoằng Phước đứt ngang…
Trong cuộc trò chuyện thân tình với chúng tôi, ông Nguyễn Thanh Tám, nguyên Chủ tịch Hội Người cao tuổi xã Đại Lãnh cũ, cho hay, từ xa xưa, dòng Vu Gia từ thôn Hòa Hữu (nay thuộc xã Hà Nha) đổ xuống chảy sát cầu Ông Huỳnh, nghĩa là rất gần Quốc lộ 14B. Đến đầu thế kỷ trước, Vu Gia đột nhiên “đổi dòng” khiến làng Hoằng Phước bị chia làm hai.
Nửa phía Nam gọi là làng Hoằng Phước Nam (nay thuộc thôn Phước Lâm, xã Hà Nha). Một bộ phận dân cư Hoằng Phước bị “thất thổ” nên phải di dời đến xã Đại Lãnh, nay thuộc xã Thượng Đức, dựng lán trại để cư trú và làm ăn, dân gian gọi là Xóm Trại, dần dà trở thành làng Hoằng Phước Bắc.
Điều khá thú vị là chuyện sông cắt đôi làng Hoằng Phước lại liên quan đến cụ Lương Thúc Kỳ, người làng Hà Tân. Rằng, có một nhà địa lý đi qua làng này, sau khi quan sát thế đất hình sông, liền phán: “Bao giờ Hoằng Phước đứt ngang/ Hà Tân mới đặng làm quan sum vầy”.
Sau này, quả nhiên, khi làng Hoằng Phước bị “đứt ngang” thì làng Hà Tân có người đỗ Cử nhân, đó là Lương Thúc Kỳ. Ông đỗ khoa thi năm Canh Tý (1900) tại Trường Thừa Thiên. Đây là vị Cử nhân đầu tiên của vùng Tây Đại Lộc.
Dù quan lộ không mấy suôn sẻ, song Lương Thúc Kỳ lại nổi tiếng là một nhà Duy tân, một nhà giáo có tâm - tài, một nhà văn, nhà thơ có đóng góp to lớn cho thư tịch văn học nước nhà. Là tác giả cuốn Quốc ngạn (Nhà in Tiếng Dân, 1931), ông được xem là “nhà văn đầu tiên viết về văn học truyền khẩu bằng chữ quốc ngữ sớm nhất ở Trung Kỳ”.
Huyền tích Chấn Sơn
Làng Chấn Sơn nay thuộc thôn Thái Chấn Sơn, xã Thượng Đức, còn có tên gọi Non Tiên. Không phải ngẫu nhiên mà dân gian gọi Chấn Sơn, vì đó là ngọn núi thấp nằm đơn lẻ như bức bình phong chắn ngang tầm dãy Trường Sơn phía sau hùng vĩ.
Đến Chấn Sơn, chúng tôi ngạc nhiên về một làng nhỏ nằm bên bờ Bắc dòng sông Con mà lại có nhiều huyền tích. Tương truyền, lưng chừng núi Chấn, có một giếng nước trong vắt bốn mùa không cạn kiệt. Thỉnh thoảng, trong những đêm trăng thanh gió mát từng đoàn tiên nữ cùng về đây ca múa. Vì thế, giếng có tên gọi là Giếng Tiên, ngày nay vẫn tồn tại.
Cũng khá bất ngờ nữa là Chấn Sơn “sở hữu" nhiều địa danh tương truyền có liên quan đến chúa Nguyễn trong những ngày tẩu quốc. Chuyện rằng, khi đoàn quân chúa Nguyễn chạy qua núi Chấn Sơn về phía Tây chừng non cây số, vừa mệt vừa đói, đành đóng quân nghỉ lại, dân chúng thấy vậy nên nấu chè thết đãi, cũng từ đó có tên gọi là Hóc Chè. Chỗ chúa dựng lều đóng trại có tên Hóc Tướng.
Cách một quãng không xa có một mô đất cao ráo, gọi là gò Tôn Dương - nơi Chúa Định vương Nguyễn Phúc Thuần xuống chiếu phong cháu mình là Nguyễn Phúc Dương làm Đông cung Thế tử.
Chấn Sơn còn có một đầm lầy phía sau làng và ngôi miếu cổ gọi là miếu ông Lương. Nghe nói ông là vị đô đốc của Tây Sơn, trên đường truy lùng đoàn quân của chúa Nguyễn, đến đây bị sa lầy, cả voi và người bị nạn. Để tưởng nhớ vị tướng và con voi quý, quân lính và dân làng chôn cất ông trang trọng, có tạc tượng dáng con voi nằm phủ phục phía trước ngôi mộ và lập miếu thờ.
Chấn Sơn không chỉ là miền quê nhuốm màu huyền tích mà còn là địa danh gắn liền với lịch sử chống ngoại xâm của mảnh đất Đại Lộc. Đầu tháng 3/1947, sau khi chiếm đóng Đà Nẵng và các vùng chung quanh, thực dân Pháp đã mở cuộc tấn công vào các địa phương phía Bắc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, trong đó có huyện Đại Lộc.
Lúc này, cơ quan Huyện ủy Đại Lộc chuyển về thôn Chấn Sơn, xã Đại Lãnh, làm việc tại nhà ông Nguyễn Khóa (Cửu Khóa), thân sinh đồng chí Nguyễn Diêu, nguyên Huyện ủy viên, nguyên Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến - Hành chính huyện Đại Lộc.
Tháng 4/1949, tại thôn Chấn Sơn, Đại hội Đảng bộ huyện Đại Lộc lần thứ II được tổ chức. Những chủ trương của đại hội đã tạo ra thế và lực mới để quân và dân toàn huyện đẩy mạnh tổ chức đánh địch, mở rộng vùng tự do, mở ra bước ngoặt lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Năm 2015, Đảng bộ và nhân dân huyện Đại Lộc đã dựng bia di tích nơi làm việc của Huyện ủy Đại Lộc tại Chấn Sơn.