Chuẩn hóa vùng nguyên liệu

Mở vùng nguyên liệu theo chuỗi
Tại vùng sâm Ngọc Linh, Công ty CP Nông nghiệp Trường Hải đã đề xuất một dự án trồng sâm và dược liệu tập trung quy mô lớn tại hai xã Trà Linh, Trà Tập. Dự án có quy mô khoảng 1.206ha, thời hạn hoạt động 50 năm. Đầu tháng 8/2026, thành phố và doanh nghiệp thống nhất đề xuất khoảng 1.200ha, gồm 573ha ở Trà Linh và 627ha ở Trà Tập. Tổng vốn đầu tư dự kiến khoảng 12.300 tỷ đồng, giai đoạn đầu đầu tư hạ tầng và hình thành khoảng 70ha vùng trồng.
Phương án đề xuất gồm bảo tồn nguồn gen, nghiên cứu gieo ươm, nuôi cấy mô, nhà màng, phát triển cây lâm nghiệp tạo tán, sản xuất sâm và dược liệu dưới tán rừng, sau đó nối sang sơ chế, bảo quản, chiết xuất và chế biến. Nếu dự án được thẩm định và triển khai theo định hướng này, vùng sâm sẽ có thêm một đầu mối để tính toán nguồn nguyên liệu ổn định cho những dòng sản phẩm có giá trị cao hơn.
573ha tại Trà Linh và 627ha tại Trà Tập quy hoạch tập trung.
Đầu tư đồng bộ từ bảo tồn gen đến chế biến sâu và chiết xuất.
Chiến lược liên kết dài hạn phát triển chuỗi giá trị sâm Ngọc Linh.
Hoàn thành hạ tầng và hình thành vùng trồng lõi trong giai đoạn đầu.

Ở Trà Linh, việc đầu tiên là xác định rõ hiện trạng vùng sâm. Theo ông Trịnh Minh Hải, Chủ tịch UBND xã Trà Linh, địa phương hiện thống kê có 35 nhóm hộ trồng khoảng 374,8ha; 361 hộ và 14 doanh nghiệp với khoảng 311,7ha. Tổng diện tích đã được cho thuê môi trường rừng khoảng 685,7ha. Ngoài phần có hồ sơ, sâm còn được trồng phân tán qua nhiều năm nên diện tích thực tế được ước tính lớn hơn nhiều, trong khi số cây theo từng lô, độ tuổi và khả năng cho thu hoạch chưa thể thống kê đầy đủ.
UBND xã đang phối hợp rà soát lại chủ thể, vị trí, diện tích, số lượng, độ tuổi cây cùng khả năng thu hoạch từng khu để xây dựng dữ liệu quản lý thống nhất hơn. Theo ông Hải, Trà Linh có hơn 9.622ha đất quy hoạch lâm nghiệp, trong đó phần lớn là rừng tự nhiên. Dư địa ấy phải được sàng lọc theo điều kiện sinh thái, quy hoạch và quy định về lâm nghiệp trước khi tính chuyện mở vùng. Địa phương đang hướng đến lập bản đồ vùng trồng, xây mã số vùng, mã cây, mã lô và hồ sơ theo dõi từ giống, chăm sóc đến thu hoạch.

Sự xuất hiện của doanh nghiệp lớn vì thế được kỳ vọng tạo thêm nguồn lực cho vùng nguyên liệu, nhưng phần việc nền vẫn phải được làm từ địa phương. Khi dữ liệu rõ, giống có nguồn gốc, quy trình được kiểm soát và quyền lợi người dân được đặt trong liên kết dài hạn, doanh nghiệp mới có cơ sở tính công suất nhà máy, còn người trồng có thể tính được đường đi của cây sâm qua nhiều năm.
Chuẩn từ giống đến cây
Khi vùng trồng mở rộng, áp lực đầu tiên dồn vào nguồn giống. Trung tâm Phát triển sâm và dược liệu (Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Đà Nẵng) hiện quản lý khoảng 50ha, trong đó gần 12ha đã trồng sâm, chủ yếu phục vụ bảo tồn nguồn gen. Nguồn gen tại đây được gây dựng từ năm 1981 và tiếp tục nhân giữ qua nhiều giai đoạn, tạo cơ sở kiểm soát giống khi nhu cầu cây con tăng.
Ông Trương Công Quang, Giám đốc Trung tâm Phát triển sâm và dược liệu cho biết, điều kiện vùng sâm những năm gần đây đã thay đổi. Nhiệt độ có xu hướng tăng, sản xuất mở rộng khiến nguy cơ dịch bệnh lớn hơn. Trung tâm từng bước đưa sản xuất cây giống vào khu vực có mái che để chủ động lượng mưa, độ ẩm, ánh sáng và hạn chế nguồn bệnh.
Trung tâm Phát triển Sâm và Dược liệu quản lý 50ha (gần 12ha trồng bảo tồn gen từ năm 1981); chuẩn bị ứng dụng phân tích DNA để kiểm soát xuất xứ và nguồn gen cây giống khoa học.
Năm 2026, năng lực cung ứng của Trung tâm Phát triển sâm và dược liệu đạt hơn 200 nghìn cây giống sâm Ngọc Linh một và hai năm tuổi, định hướng đến năm 2030 nâng lên hơn 500 nghìn cây mỗi năm. Đơn vị cũng chuẩn bị ứng dụng phân tích DNA để đánh giá nguồn gen, tiến tới kiểm soát xuất xứ cây giống bằng cơ sở khoa học.

Ở góc nhìn nghiên cứu, PGS-TS. Lê Hùng Lĩnh (Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam) cho rằng, vùng nguyên liệu phục vụ chế biến cần độ đồng nhất cao hơn sản xuất nhỏ lẻ. Sâm sinh trưởng gần tự nhiên có thể khác nhau về tuổi cây, nguồn gen và điều kiện sinh trưởng. Khi trở thành nguyên liệu cho dây chuyền chế biến, những khác biệt ấy cần được kiểm soát để các lô sản phẩm có chất lượng tương đối ổn định. Theo ông Lĩnh, sâm trồng trong điều kiện gần với tự nhiên vẫn có giá trị và cần được duy trì cho một phân khúc riêng.

Khi xây dựng vùng nguyên liệu phục vụ chế biến và sản xuất hàng hóa quy mô lớn, nguyên liệu đầu vào phải đạt chuẩn và có tính đồng nhất. Muốn có sản phẩm chuẩn thì trước hết phải có quy trình trồng chuẩn và giống chuẩn, sau đó mới tính đến việc mở rộng vùng nguyên liệu.
“Kinh nghiệm từ Hàn Quốc cho thấy nguồn nguyên liệu hàng hóa đi cùng quá trình chọn tạo giống kéo dài. Việt Nam có thể tiếp cận những thành tựu về chọn giống, kỹ thuật canh tác, môi trường kiểm soát, công nghệ tế bào và sinh khối, sau đó nghiên cứu để phù hợp với đặc tính của sâm Ngọc Linh”, PGS-TS. Lê Hùng Lĩnh cho biết thêm.
Đưa thương hiệu vươn xa

Kể chuyện từ vùng sâm
Ở vùng núi Ngọc Linh, cây sâm gắn với rừng và đời sống cộng đồng bản địa. Thu hút du lịch bắt đầu gắn với giá trị vùng sâm mở rộng sang câu chuyện về cảnh quan, văn hóa, sinh kế và cách người dân giữ cây dưới tán rừng.
Ông Phạm Thanh Tùng, chuyên gia thiết kế các tour du lịch nông nghiệp và Farm Stay cho biết, tour khám phá vùng trồng sâm tại Trà Tập có chiều sâu vì kết hợp được nhiều trải nghiệm. Du khách có thể đi bộ vào vườn sâm, tìm hiểu cách trồng, nhìn thấy củ sâm trong đất, rồi nối hành trình với săn mây ở Tăk Pổ, ẩm thực vùng cao, làng bản, tiếng trống chiêng và những câu chuyện về nghi lễ của đồng bào Ca Dong, Xơ Đăng. Cây sâm nhờ vậy hiện lên trong môi trường sinh trưởng và đời sống cộng đồng.
Để hướng đi này bền vững hơn, ông Tùng cho rằng ngành du lịch và nông nghiệp cần cùng tham gia từ quy hoạch vùng trồng, kiểm soát giống, chất lượng dược liệu đến xây dựng chương trình trải nghiệm văn hóa, sinh thái. Hạ tầng, lưu trú và dịch vụ cần chuẩn bị phù hợp. Cách làm bài bản sẽ giúp tour sâm thành kênh quảng bá thường xuyên, tạo thêm lý do để du khách ở lại và hiểu hơn về miền núi phía tây thành phố.

Trong khi đó, ở Trà Linh, địa phương có hướng phát triển du lịch gắn với những điểm đã có nền tảng về sâm. Ông Trịnh Minh Hải, Chủ tịch UBND xã Trà Linh cho biết, Trại sâm Tăk Ngo và Nhà trưng bày sâm Ngọc Linh được kỳ vọng trở thành nơi giới thiệu nguồn gen, nhân giống, chăm sóc và giá trị cây sâm. Lễ cúng Thần Sâm, ẩm thực và tri thức của người Xơ Đăng có thể đưa vào hành trình trải nghiệm.
“Vùng bảo tồn nguồn gen, cây mẹ, cây đầu dòng và khu sản xuất cần được bảo vệ nghiêm ngặt, nên tuyến tham quan phải phù hợp với sức chịu tải môi trường và an ninh vùng trồng. Người dân địa phương tham gia cung cấp dịch vụ, kể câu chuyện vùng sâm bằng trải nghiệm của mình. Du lịch phải giúp người ta hiểu vì sao cây sâm quý. Người dân địa phương phải là chủ thể kể câu chuyện về cây sâm, văn hóa và đời sống của mình”, ông Hải nói.
Tạo thêm đường ra thị trường
Đưa thương hiệu đi xa còn phụ thuộc vào khả năng biến củ sâm thành những sản phẩm phù hợp với nhiều nhóm khách. Sau hơn 10 năm tham gia lĩnh vực sâm, Công ty Sâm Sâm đã phát triển hơn 10 dòng sản phẩm chế biến, còn vùng nguyên liệu của doanh nghiệp chủ yếu được giữ để phục vụ sản xuất.
Ông Lê Ngọc Duy, Giám đốc Tài chính Công ty Sâm Sâm cho biết, điều doanh nghiệp quan tâm khi mở thị trường là tính minh bạch của nguyên liệu. Một sản phẩm muốn vào thị trường lớn cần có hồ sơ vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, chỉ dẫn địa lý và những tiêu chuẩn phù hợp với cây dược liệu.

Theo ông Duy, một số sản phẩm đã hình thành nhóm khách quay lại sử dụng, khiến doanh nghiệp tiếp tục đầu tư nghiên cứu và chuẩn hóa. Hoạt động hợp tác với một đơn vị tại Nhật Bản cũng cho công ty thấy rõ yêu cầu về chứng nhận xuất xứ và hồ sơ nguyên liệu khi bước vào thị trường có tiêu chuẩn cao.
Một hướng khác được ông Lương Trọng Khoa, nhà sáng lập Công ty CP Sâm Việt Nam Vinapanax, Phó Chủ tịch Hội sâm Ngọc Linh Quảng Nam theo đuổi là đưa sâm vào những sản phẩm có mức giá dễ tiếp cận hơn. Ông Khoa cho biết, ông cùng cộng sự có khoảng 50.000 cây sâm; đồng thời phát triển các sản phẩm kết hợp sâm với yến, mật ong, bột uống và đồ uống giải khát.
Tuy nhiên, lượng sâm đang nằm trên núi rất lớn, trong khi đầu ra vẫn tập trung nhiều ở củ tươi. Vinapanax chiết xuất và chia nhỏ hàm lượng để giảm chi phí mỗi lần dùng. Một số sản phẩm có giá khoảng 30 nghìn đồng. Đây là cách chúng tôi đưa loại sâm quý đến gần hơn với người Việt”, ông Khoa nói.
Cùng nhau đi đường dài
Tạo một điểm tựa chung
Bà Nguyễn Thị Dự (ở thôn 2, xã Trà Linh) có hơn 6ha đất vườn, trong đó hơn 3ha đã trồng sâm Ngọc Linh. Sau khoảng 12 - 13 năm gắn bó, bà gây dựng được khoảng 8.000 cây từ 8-10 năm tuổi, thêm khoảng 8.000 cây từ 5-7 năm tuổi và một lượng lớn cây nhỏ tiếp tục được chăm sóc.

Ít ai biết bà Dự vốn quê Núi Thành, lên Trà Linh buôn bán tạp hóa rồi dành những khoản tiền nhỏ để mua giống. Những năm đầu thiếu kinh nghiệm, có lúc bà bón đất mùn quá nhiều, gặp mưa khiến cây thối gần hết. Vườn sâm sau này được gây lại từ những lần thất bại như thế, cây đủ tuổi được giữ làm giống trước khi bà tính đến chuyện bán ra thị trường.
Khi vườn ổn định hơn, mỗi tháng bà Dự có thể đưa ra thị trường khoảng 20kg sâm tươi. Một cây sâm cần nhiều năm chăm sóc, vốn nằm lại lâu dưới tán rừng, nên biến động đầu ra sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định giữ cây, mở vườn và đầu tư thêm. Theo bà Dự, vài năm trước sức mua khá tốt, còn từ năm 2025 lượng sâm đưa ra thị trường nhiều hơn nên giá cũng điều chỉnh. Điều bà mong nhất vẫn là đầu ra tương đối ổn định để người trồng yên tâm giữ cây đến tuổi, chăm sóc bài bản và tính được kế hoạch cho nhiều năm.
“Người trồng sâm bỏ vốn rất lâu mới có sản phẩm. Nếu đầu ra ổn định thì mình mới mạnh dạn giữ cây, mở rộng vườn và chăm sóc theo hướng bài bản hơn. Còn lúc thị trường lên xuống nhiều thì người dân cũng khó tính toán cho những năm tiếp theo”, bà Dự chia sẻ.

Sau khi tham gia Hội sâm Ngọc Linh Quảng Nam, bà Dự nhận thấy việc mang sản phẩm đi xa thuận lợi hơn ở khâu giới thiệu nguồn gốc. Ngoài vùng trồng, người mua đứng trước nhiều sản phẩm mang tên sâm khác nhau, trong khi bằng mắt thường rất khó phân biệt. Một tổ chức nghề nghiệp tạo thêm điểm tựa để người trồng trao đổi kinh nghiệm, tiếp cận thông tin và cùng giữ uy tín của sản phẩm.
“Khi mình mang củ sâm đi xa, người mua cần có một căn cứ nào đó để tin đây là sâm từ vùng mình trồng. Vào hội, tôi thấy mình có thêm một chỗ dựa để giới thiệu nguồn gốc sản phẩm. Đối với người trồng sâm, cái đó rất quan trọng vì thị trường bây giờ có nhiều loại sâm, người mua rất khó phân biệt”, bà Dự nói.
Giữ vững chất lượng và uy tín
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Võ Đình Tấn, Giám đốc vùng trồng của một doanh nghiệp ở xã Trà Linh cho rằng, chuỗi sâm ổn định phải bắt đầu từ giống, vùng trồng và hồ sơ pháp lý. Phần lớn diện tích sâm nằm dưới tán rừng phòng hộ, nên các bước thuê môi trường rừng, phương án trồng và mã vùng cần được giải quyết trước khi sản xuất theo tiêu chuẩn.
Theo ông Tấn, hệ thống vật tư và quy trình bảo vệ thực vật chuyên biệt cho sâm vẫn cần thêm nghiên cứu. Khi vùng trồng hướng đến mã số và tiêu chuẩn GACP, vật tư sử dụng, cách chăm sóc, phòng bệnh và thu hoạch phải có cơ sở khoa học để phục vụ truy xuất, kiểm định và kiểm soát chất lượng đầu vào.

Hội sâm Ngọc Linh Quảng Nam có hơn 200 thành viên. Ông Nguyễn Đức Lực, Chủ tịch hội cho biết, những hộ ở vùng cao khó tiếp cận thủ tục pháp lý, tiêu chuẩn và thị trường. Hội hướng đến hỗ trợ hồ sơ, tổ chức nhóm chuyên môn và xây nguyên tắc chung rõ ràng cho hội viên. Hội đang gấp rút triển khai xây dựng bộ tiêu chí vùng trồng trong nội bộ, gắn với kiểm tra hồ sơ, lấy mẫu, đối chiếu nguồn giống và phối hợp phân tích DNA tại một số vườn. Đây là quy ước của hội viên, được thực hiện song song với quy trình kiểm định của cơ quan nhà nước để giữ nguồn gốc, chất lượng và cách bán hàng minh bạch.
“Hội xác định mình là nơi kết nối và xây những nguyên tắc chung trong cộng đồng người trồng sâm. Vùng trồng nào đủ điều kiện thì được xác nhận theo bộ tiêu chí của hội, giá bán cũng cần niêm yết minh bạch. Làm từng bước như vậy sẽ giúp xây dựng uy tín chung, tạo thêm căn cứ để người tiêu dùng nhận biết và tin vào sản phẩm”, ông Lực nói.
Cũng theo ông Lực, sự quan tâm của các tập đoàn lớn mở thêm cơ hội về vốn, công nghệ, chế biến và thị trường. Liên kết ấy cần giữ vai trò của người trồng bản địa để họ tham gia lâu dài và hưởng lợi từ giá trị cây sâm.

