Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) mở ra tư duy mới trong thu hút đầu tư. Với Đà Nẵng, đây không chỉ là cơ hội đón những dự án FDI chất lượng cao, mà còn tạo động lực xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu quốc tế hóa.

Việc gắn đào tạo với nhu cầu doanh nghiệp đang tạo hướng đi hiệu quả trong chuẩn bị nguồn nhân lực cho doanh nghiệp FDI.
Anh Nguyễn Võ Huy Hoàng, cựu sinh viên khóa K20 chuyên ngành Cơ khí hàng không (Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng), hiện là kỹ sư lắp ráp tại Công ty KP Aerospace Vietnam, cho biết chương trình đào tạo tại trường được thiết kế rất rõ ràng và mang tính thực chiến cao, đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp FDI.
Ở những năm đầu tiên, sinh viên được học các môn nền tảng như toán cao cấp, vật lý đại cương, sức bền vật liệu và cơ lý thuyết. Đây là bước đệm không thể thiếu trước khi bước vào các năm cuối để học chuyên ngành sâu về máy bay. Lúc này, nhà trường bắt đầu lồng ghép thực tế thông qua phương pháp học theo dự án; đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học và cọ xát trực tiếp tại các cuộc thi kỹ thuật quy mô lớn.
Nhà trường cũng đẩy mạnh hợp tác với doanh nghiệp thông qua các kỳ thực tập, hoạt động nghiên cứu và việc đầu tư phòng thí nghiệm. Theo anh Hoàng, những trải nghiệm này giúp sinh viên thu hẹp khoảng cách giữa giảng đường và môi trường thực tế.
Đây cũng là lý do các doanh nghiệp FDI khi tìm hiểu thị trường Đà Nẵng thường quan tâm đến các cơ sở đào tạo để tìm kiếm nhân lực và phối hợp xây dựng chương trình đào tạo.
Từ thực tế công việc, anh Hoàng chia sẻ doanh nghiệp FDI đặt ra những yêu cầu khá cao, ngoài trình độ chuyên môn, ngoại ngữ là yếu tố không thể thiếu, nhất là khả năng đọc hiểu tài liệu tiếng Anh kỹ thuật. Khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh hoặc ngoại ngữ khác cũng là lợi thế khi phối hợp với chuyên gia, quản lý nước ngoài.
Anh Văn Viết Quốc Anh, cựu sinh viên khóa K20, chuyên ngành Cơ khí Hàng không cũng đảm nhận vị trí kỹ sư quản lý sản xuất tại Công ty KP Aerospace Vietnam; được đào tạo trực tiếp tại Hàn Quốc và tham gia vào dây chuyền lắp ráp cụm chi tiết RAKED WING TIP 787 cho máy bay Boeing.
Trong quá trình làm việc thực tế tại doanh nghiệp FDI, Quốc Anh nhận ra rằng, không chỉ cần kiến thức chuyên môn, người kỹ sư còn phải có tinh thần trách nhiệm cao, khả năng học hỏi liên tục, tư duy cải tiến và đặc biệt là khả năng thích nghi với những yêu cầu mới của doanh nghiệp.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Châu Tâm, Tổng Giám đốc Trung tâm Kinh doanh Quốc tế - Tập đoàn Xây dựng Thái Bình Dương (Trung Quốc) cho rằng, cùng với sự gia tăng đầu tư nước ngoài và tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhân tài ngày càng có vai trò quan trọng.
Doanh nghiệp đặt ra 5 yêu cầu đối với nhân lực gồm trẻ hóa, kiến thức, chuyên nghiệp, ngoại hình và quốc tế hóa.
Trường đại học cần tăng cường giao lưu với doanh nghiệp, tạo điều kiện để sinh viên thực tập và tích lũy kinh nghiệm trước khi tốt nghiệp. Đây là cách giúp người học không bỡ ngỡ khi bước vào môi trường làm việc thực tế, đồng thời giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn nhân lực phù hợp.
Ông Trương Quốc Tuấn, Phó Chủ tịch phụ trách Hợp tác quốc tế Hội Doanh nhân trẻ thành phố Đà Nẵng (YBA Đà Nẵng), Tổng Giám đốc Công ty Nova Square cho rằng, Nghị quyết số 10-NQ/TW mở ra tư duy mới về thu hút FDI. Vấn đề không chỉ là thu hút bao nhiêu vốn, mà quan trọng hơn là thu hút dòng vốn nào, tạo ra giá trị gì và làm thế nào để khu vực FDI cùng phát triển với doanh nghiệp Việt Nam.
Với Đà Nẵng, cơ hội đang mở ra khi thành phố hình thành các cấu phần quan trọng như Khu thương mại tự do, Trung tâm tài chính quốc tế, logistics, công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và kinh tế số.
Nếu kết nối hiệu quả, thành phố có thể chuyển từ tư duy thu hút từng dự án sang xây dựng hệ sinh thái đủ sức hấp dẫn các tập đoàn quốc tế đến đầu tư và kết nối với khu vực miền Trung.
Trong hệ sinh thái đó, con người là yếu tố quyết định. Hạ tầng, chính sách và ưu đãi đầu tư sẽ khó phát huy hiệu quả nếu thiếu nhân lực có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.
Nguồn nhân lực Đà Nẵng vì vậy không chỉ cần giỏi chuyên môn mà phải có ngoại ngữ, năng lực công nghệ, tư duy quốc tế, kỹ năng quản trị và đổi mới sáng tạo.
Những lĩnh vực như giáo dục STEM, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, robotics, ngoại ngữ, tài chính và kỹ năng kinh doanh quốc tế cần được xem là một phần trong chiến lược chuẩn bị nhân lực cho thành phố.

Theo ông Tuấn, có thể hình dung một vòng tròn phát triển: FDI chất lượng cao tạo ra công nghệ, tri thức mới; doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng; nhu cầu nhân lực chất lượng cao tăng lên; giáo dục và đào tạo phát triển; từ đó tiếp tục tạo nền tảng thu hút dòng vốn FDI có giá trị cao hơn.
Khi đó, FDI không chỉ mang đến vốn, việc làm hay kim ngạch xuất khẩu, mà còn trở thành động lực nâng cấp doanh nghiệp trong nước và chất lượng nguồn nhân lực.
Đây cũng là nền tảng để Đà Nẵng xây dựng lợi thế cạnh tranh dài hạn. Trong cuộc cạnh tranh thu hút FDI, lợi thế của thành phố không chỉ nằm ở đất đai, hạ tầng hay ưu đãi đầu tư, mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng hình thành một hệ sinh thái quốc tế, nơi doanh nghiệp, tài chính, công nghệ, thương mại và con người kết nối nhanh chóng, hiệu quả.
Theo Phó Giám đốc Đại học Đà Nẵng Phan Minh Đức, trong bối cảnh xây dựng nhân lực quốc tế hóa, mối quan hệ giữa nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp cần được phát triển theo mô hình “hợp tác 3 nhà” với 6 trụ cột.
Bao gồm: đồng thiết kế chương trình đào tạo, đồng đào tạo, đồng nghiên cứu, đồng đổi mới sáng tạo, đồng quản trị dữ liệu và đồng phát triển vùng.
Mô hình này đang từng bước được triển khai tại các cơ sở đào tạo thuộc Đại học Đà Nẵng. Hầu hết ngành kỹ thuật có thực tập tại doanh nghiệp; nhiều ngành có chuyên gia, kỹ thuật viên doanh nghiệp tham gia giảng dạy. Một số ngành còn hợp tác sử dụng phòng thí nghiệm tại doanh nghiệp trong các lĩnh vực điện, điện tử, cơ điện tử, cơ khí hàng không.
Ở khâu thiết kế chương trình, các đơn vị sử dụng lao động tham gia xây dựng chuẩn đầu ra, nội dung học phần và các dự án tốt nghiệp gắn với doanh nghiệp. Qua đó, chương trình đào tạo bám sát hơn nhu cầu tuyển dụng, sinh viên có điều kiện tiếp cận công việc trước khi tốt nghiệp.
Để tăng hiệu quả kết nối 3 nhà, ông Đức đề xuất thành phố xây dựng một hệ thống thông tin về việc làm và nhân lực (chẳng hạn website việc làm) với sự tham gia của nhà nước, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và sinh viên tốt nghiệp.
Trong đó, doanh nghiệp cập nhật nhu cầu nhân lực; nhà trường cung cấp thông tin về người học trong phạm vi quy định; sinh viên chủ động cập nhật thông tin tìm việc. Đây sẽ là cơ sở để kết nối cung - cầu lao động và giúp các trường điều chỉnh chương trình đào tạo theo nhu cầu thị trường.