“Ải Lĩnh xuân vân” (隘嶺春雲) là bài thơ thất ngôn bát cú rất nổi tiếng của chúa Nguyễn Phúc Chu.

Có ít nhất 3 lần bài thơ này được in trên chén sứ ký kiểu (lần thứ nhất vào thời chúa Nguyễn Phúc Chu; lần thứ 2 thời vua Minh Mạng và lần 3 cuối thế kỷ 19 niên hiệu Chính Đức niên chế); đã có nhiều người dịch bài thơ này và cũng đã có nhiều bài bình luận về nội dung cũng như số phận bài thơ.
1. Tôi tiếp cận bản được in trên chén sứ ký kiểu do nhà nghiên cứu, TS. Trần Đức Anh Sơn giới thiệu.
Nguyên văn
隘嶺春雲
越南險要此山巔
絕嶺還如蜀道天
但見雲橫三俊嶺
不知人在幾重天
嶺霑鬚髮非同雪
濕濺衣裳豈是泉
惟願海風吹作雨
正宜千里潤桑田
Phiên âm: Ải Lĩnh xuân vân
Vượt nam xung yếu thử sơn điên
Tuyệt lĩnh hoàn như thục đạo thiên
Đãn kiến vân hoành tam tuấn lĩnh
Bất tri nhân tại kỷ trùng thiên
Lãnh triêm tu phát phi đồng tuyết
Thấp tiễn y thường khởi thị tuyền
Duy nguyện hải phong xuy tác vũ
Chính nghi thiên lý nhuận tang điền
Để nắm bắt cảm xúc của nhà thơ, tôi đã nhiều lần trải nghiệm Hải Vân Sơn (một tên khác của Ải Lĩnh). Đó là dãy núi phân giới giữa 2 thành phố Đà Nẵng và Huế, có nhiều sự khác biệt đến bí ẩn.
Hải Vân là mạch núi từ Bạch Mã chạy ngang ra biển. Suốt chiều dài đất nước, có nhiều dãy “hoành sơn” (núi chạy ngang) như vậy: Đèo Ngang giữa Hà Tĩnh - Quảng Bình, Đèo Cù Mông giữa Bình Định - Phú Yên, Thạch Bi Sơn (Đèo Cả) giữa Phú Yên - Khánh Hòa… Nhưng, về sự trùng điệp, hiểm trở, khí hậu, Hải Vân là khác biệt.
Sách Ô Châu cận lục của Dương Văn An mô tả: Núi Hải Vân có cửa ải Hải Vân”, “bên dưới sát bờ biển, bên trên dựng thấu tầng mây. Núi phân chia đường Nam - Bắc, mây đưa đón khách vãng lai, vách đá cao ngất, là ranh giới giữa Thuận Hóa và Quảng Nam” (tr.23). Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn chép: “Núi Hải Vân… ở huyện Tư Vinh, dưới xuống sát bờ biển, trên chọc tầng mây…” (tr.79).
Mây là quà tặng thiên nhiên dành cho núi rừng. Mùa xuân Hải Vân được phủ bởi màn mây đặc quánh. Điều lạ, ngọn núi 2 phía bắc - nam độ 20 cây số, nhưng mây mù phủ kín sườn bắc, còn sườn nam, mặt trời trải nắng như dát thảm vàng từ lưng chừng núi xuống tận mép biển xanh. Thi sĩ Tản Đà qua đây chẳng đã thốt lên “Hải Vân đèo nhớn vừa qua/ Mưa xuân ai bỗng đổi ra nắng hè” (Tản Đà- Chơi Huế).
Núi là yếu tố tĩnh, tượng trưng cho sự bền vững; gió là yếu tố động tượng trưng cho sự linh hoạt, đổi mới. Mây là linh hồn của đá, mây hợp rồi tan, tan rồi hợp là nhờ gió. Giữa mây núi bao la, ta như rơi vào hỗn dung thực mà ảo, ảo mà thực. Trải nghiệm mây xuân Ải Lĩnh ta như lạc vào cõi tiên, bảng lãng, phiêu linh, thoát tục.
2. Nguyễn Phúc Chu một người sùng đạo, chủ “tùy duyên nhi bất biến” - một vị chúa anh minh luôn trăn trở về thiên mệnh, thiên thời, vận nước. Ông mượn vẻ đẹp huyền ảo của mây Ải Lĩnh mà liên tưởng phận nước.

Theo các nguồn sử liệu, bài thơ được viết vào năm 1719, trong chuyến viễn du Quảng Nam. Ở Đàng Trong, chúa Nguyễn Phúc Trăn (1687-1691) qua đời, Nguyễn Phúc Chu nối ngôi, tiếp tục thực thi nhiều chính sách nhằm củng cố chính quyền, mở rộng bờ cõi. Suốt 34 năm dưới sự cai trị của chúa Nguyễn Phúc Chu, Đàng Trong tạo được nhiều dấu ấn: “Chúa rất quan tâm chiêu hiền đãi sĩ, cầu lời nói thẳng, nạp lời can gián, bỏ xa hoa, bớt chi phí, nhẹ thuế má, lao dịch, bớt việc hình ngục”.
Các nhà sử học đều ghi nhận đây là thời kỳ phát triển rực rỡ bậc nhất ở Đàng Trong, đất nước thịnh trị, nhân dân được hưởng hạnh phúc, ấm no. Đóng góp lớn của chúa Nguyễn Phúc Chu cần được nói đến là kế tục việc mở mang bờ cõi, xác lập bộ máy, thực thi chủ quyền đối với những vùng đất mới được khai phá.
Năm 1697 - 1698 đặt phủ Bình Thuận gồm khu vực Phan Rang, Phan Rí trở về tây; bắt đầu đặt phủ Gia Định, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, lập xã Minh Hương. Năm 1708 phong Mạc Cửu làm Tổng binh trấn Hà Tiên. Có thể nói rằng, đến những thập niên đầu thế kỷ 18, cơ bản vùng đất Nam Bộ được sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt.
Nhưng cũng trong thời kỳ này, các chúa Nguyễn lại lún sâu thêm một bước nữa trong hành động chia cắt đất nước, âm mưu biến Đàng Trong thành một quốc gia riêng biệt. Chính chúa Nguyễn Phúc Chu đã cầu phong nhà Thanh nhưng không thành. Có lẽ thiên thời, vận nước tác động mạnh đến tư tưởng của ông.
Vận trời, vận nước xoay chuyển không ngừng, nhưng khát vọng thống nhất non sông luôn là đau đáu trong tim của mỗi người dân đất Việt. Là nhà trị quốc, ông không thể không biết điều thiêng liêng này. Phải chăng đó là bi kịch giằng xé tư tưởng của Nguyễn Phúc Chu trong hơn 34 năm đứng trên đỉnh cao quyền lực xứ Đàng Trong?
3. Nguyễn Phúc Chu mô tả sự hùng vĩ của Hải Vân bằng 2 câu đề giàu hình ảnh: “Vượt nam xung yếu thử sơn điên/Tuyệt lĩnh hoàn như thục đạo thiên”. Đường vào Thục như là biểu tượng của hiểm trở, cheo leo. Cách dùng từ của tác giả dẫn người đọc hướng theo lối vượt khó khăn, trắc trở trên chặng đường đầu mở cõi. Với sự mô tả đó, người đọc dễ hình dung đi vào phương Nam ắt hẳn phải qua chặng đường gian nan, vất vả.


Mây là linh hồn của Ải Lĩnh, Nguyễn Phúc Chu mượn hình ảnh này để nói lên điều băn khoăn, trăn trở về đất nước mà ông đã dành trọn đời mình để phụng hiến. “Đãn kiến vân hoành tam tuấn lĩnh/ Bất tri nhân tại kỷ trùng thiên. (Đã nhìn thấy mây giăng ba đỉnh núi lớn/ Không biết người ở đâu trong vòng xoay chuyển vận của đất trời).
Mây xuân phủ dày Ải Lĩnh, ngàn đời vẫn vậy. Nó là sản phẩm tự nhiên, nằm ngoài ý chí con người. Giữa mây mù mờ mịt đó, việc con người nhận chân mình đang ở đâu, vận trời xoay chuyển thế nào là điều bất khả. Chữ 幾 (kỷ) theo Từ điển trích dẫn, có một âm là cơ: thời cơ, cơ hội; cơ yếu, chính sự. Trong văn cảnh này, chúng tôi hiểu ý câu này: không biết người ở đây có hiểu được vận trời.
Hai câu luận: “Lãnh triêm tu phát phi đồng tuyết/ Thấp tiễn y thường khởi thị tuyền” (Hiểu nghĩa: Râu tóc lạnh đơ dù trời không có tuyết; Quần áo ướt dầm bởi những giọt nước đầu nguồn).
Hai câu này, nhiều bản dịch khác nhau: “Tóc mi không tuyết lạnh sao/ Áo xiêm ướt đẫm như vào suối mê” (Đinh Bá Truyền); “Mi tóc lạnh dù không tuyết rụng/ Áo xiêm ngâm dẫu chẳng nguồn vây” (Nguyễn Phước Hải Trung); “Không khe suối cũng dầm xiêm áo/Chẳng tuyết băng sao buốt tóc mày” (Trần Đình Sơn); “Tóc râu dù lạnh không băng đổ/ Chẳng có áo xiêm dầm suối đây” (Lương Trọng Nhân)… (Xem thêm: https/www.thiviennet: Bài thơ Ải Lĩnh xuân vân).
Cái lạnh phương Nam hẳn không có tuyết như phương Bắc hàn đới. Tiết lạnh bởi mây mù, bởi hơi núi đá, bởi gió và… từ lòng người toát ra. Cụm từ 豈是泉 (khởi thị tuyền) có nghĩa là những giọt nước nguồn đầu tiên. Nước nguồn bắt đầu từ đâu? từ mưa chăng? Không là mưa, đích thị đó là mù sương. Những giọt sương tưởng như nhỏ nhoi đó, thấm vào đất núi, từ ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, cần mẫn.. rồi nhỉ ra từng giọt, từng giọt nuôi nguồn.
Lối tả cảnh thiên nhiên chân thực đến cực điểm là một dấu son của bài thơ.
Mây - mù - sương - những giọt nước nguồn đầu tiên đó khiến người băng rừng ướt đẫm. Nước nguồn là khởi đầu của khe, của suối, của sông, như một đất nước, một quốc gia (theo quan niệm thời đó) bắt đầu từ vua chúa, từ triều đình vậy!
Đến đây ta có thể hiểu được tâm tư, trăn trở của tác giả. Mặc dù tạo được nhiều công nghiệp cho xứ Đàng Trong nhưng Nguyễn Phúc Chu vẫn cùng thế lực thù địch Đàng Ngoài chung một chính thể vua Lê và quốc hiệu Đại Việt.
Đã có lần ông liều lĩnh bước qua giới hạn này, nhưng không thành. Nguyên nhân sâu xa, không thế lực nào đi ngược ý chí thống nhất của quốc gia, dân tộc!. Nguyễn Phúc Chu tự nhận ra sự bất lực của mình trước bối cảnh lịch sử, để lại ước nguyện nhờ trời, Phật: “Duy nguyện hải phong xuy tác vũ/ Chính nghi thiên lý nhuận tang điền”. Từ điển tích “thương hải tang điền” ta có thể hiểu nghĩa: Lòng mong muốn duy nhất là mong có một sự thay đổi lớn lao (một cuộc cách mạng) để đất nước thống nhất, non sông về một mối.
Tâm nguyện mang đậm ý chí dân tộc của ông, hơn nửa thế kỷ sau, phong trào nông dân Tây Sơn làm cuộc “thương hải tang điền” diệt cả chúa Nguyễn Đàng Trong và chúa Trịnh Đàng Ngoài, xóa bỏ tình trạng chia cắt đất nước, dẹp bỏ đế chế Lê Mạt mục ruỗng. Đó là cuộc dọn đường vĩ đại, mang tính quyết định. Nhờ đó, Nguyễn Ánh thống nhất đất nước vào năm 1802!