Tròn 555 năm trước, sau cuộc Nam chinh năm 1471, vua Lê Thánh Tông đặt tên cho vùng đất mới chiếm giữ là Đạo Thừa tuyên Quảng Nam.

Một danh xưng hành chính ra đời, mở đầu cho hành trình kiến tạo vùng đất giữ vai trò đặc biệt trong lịch sử mở mang bờ cõi...
Theo ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư, sau khi bình định Chiêm Thành, vua Lê Thánh Tông đặt Đạo Thừa tuyên Quảng Nam, tổ chức lại hệ thống hành chính, cử quan cai trị và đưa vùng đất mới vào cơ cấu quản lý thống nhất của Đại Việt.
Là một trong những tác giả viết cuốn Tìm hiểu con người xứ Quảng do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam (cũ) thực hiện năm 2004, ông Bùi Xuân, nguyên Phó trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng chia sẻ, khi đề cập lịch sử Quảng Nam, chúng ta cần phân biệt danh xưng này ở hai giai đoạn lịch sử khác nhau.
Giai đoạn đầu, từ thời Lê Thánh Tông cho đến khi Gia Long kéo dài 331 năm. Tên gọi lúc đầu là Thừa tuyên Quảng Nam, sau đổi thành xứ Quảng Nam, rồi trấn Quảng Nam và doanh Quảng Nam… Dù mang nhiều tên gọi hành chính khác nhau, nhưng Quảng Nam thời kỳ này bao gồm đất của ba phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhơn, trải dài từ bờ Nam sông Thu Bồn đến đèo Cù Mông. Dưới thời Nguyễn Hoàng, doanh Quảng Nam có thêm phủ Điện Bàn (ở phía Bắc) và phủ Phú Yên (ở phía Nam).
Cũng theo tác giả Bùi Xuân, giai đoạn thứ hai bắt đầu dưới thời vua Gia Long năm 1808, khi quyết định đổi tên thành Dinh Quảng Nam. Đúng 24 năm sau, dưới thời Minh Mạng, vùng đất này chính thức được đặt tên là tỉnh Quảng Nam.
Đánh giá về tầm quan trọng của danh xưng Quảng Nam trong việc chuyển từ vùng “biên cương quân sự” thành không gian phát triển của đất nước dưới thời vua Lê Thánh Tông, PGS. TS Hoàng Văn Hiển, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế nhận định, việc thành lập Đạo Thừa tuyên Quảng Nam phản ánh tầm nhìn chiến lược của triều Lê trong quản trị quốc gia. Nếu trước đó, các vùng đất mới chủ yếu được kiểm soát dưới góc độ quân sự nhằm bảo vệ biên cương, thì từ cột mốc này, Quảng Nam đã trở thành một đơn vị hành chính hoàn chỉnh với bộ máy quản lý, hệ thống pháp luật và chính sách khai khẩn, định cư được triển khai đồng bộ.
Ông cho rằng, tên gọi “Quảng Nam” hàm chứa tư tưởng chính trị của triều Lê. Chữ “Quảng” mang nghĩa mở rộng, phát triển; chữ “Nam” chỉ phương Nam, không gian chiến lược mà Đại Việt hướng tới trong quá trình phát triển đất nước. Dù cách lý giải chủ yếu dựa trên nghiên cứu ngữ nghĩa hơn là ghi chép của chính sử, song được nhiều học giả đồng thuận bởi phù hợp với bối cảnh lịch sử năm 1471.
Ngay sau khi thành lập Đạo Thừa tuyên Quảng Nam, triều đình thực hiện hàng loạt chính sách đưa dân vào khai hoang, lập làng, phát triển sản xuất, xây dựng hệ thống giao thông và thiết lập các thiết chế quản lý.
PGS. TS Hoàng Văn Hiển khẳng định, sự trù phú của vùng đất Quảng Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVI được nhiều tài liệu lịch sử ghi lại như một cách minh chứng sinh động cho chính sách đúng đắn của vua Lê Thánh Tông. Dưới thời các chúa Nguyễn, cùng với dinh Thuận Hóa, dinh Quảng Nam trở thành hai trung tâm chính trị, quân sự và kinh tế giữ vai trò nòng cốt trong quá trình xây dựng chính quyền Đàng Trong.
Trong lễ kỷ niệm 555 năm tiền nhân mở cõi Ngũ xã Trà Kiệu diễn ra cách đây không lâu, ông Nguyễn Thanh Tài, Chủ tịch Hội đồng Chư tộc Ngũ xã Trà Kiệu cho biết, nhà thờ Ngũ xã Trà Kiệu đang thờ tự chung 70 vị Tổ của 64 tộc họ đã có công mở cõi, khai lập đất này từ năm 1471.
Ông cho hay, cách đây 555 năm, trong hành trình mở cõi, 13 vị tiền hiền theo vua Lê Thánh Tông tiến vào Nam dẹp giặc đã dừng chân ở vùng đất Chiêm Thành. Các bậc tiền bối đã bỏ bao công sức khai phá vùng đất hoang vu, san bằng rừng đồi hiểm trở, cải tạo thành ruộng đất phì nhiêu chia cho dân làng canh tác. Từ hơn 400 mẫu đất được khai hoang, làng mạc được hình thành và xã Trà Kiệu ra đời, cư dân khắp nơi quy tụ về đây làm ăn, phát triển kinh tế.
Có thể nói, sau 555 năm, danh xưng Quảng Nam nói chung và những tên làng, tên xóm xứ Quảng nói riêng vẫn vượt lên ý nghĩa của một tên gọi hành chính. Đó là dấu ấn phản ánh tầm nhìn mở cõi dưới thời vua Lê Thánh Tông, đồng thời trở thành biểu tượng cho quá trình khai phá, kiến tạo và phát triển của một vùng đất giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Để đến hôm nay, hành trình ấy vẫn đang được tiếp nối, như chính sức sống bền bỉ của vùng đất từng mở ra một không gian phát triển mới ở phương Nam...