ĐNCT - Trong không gian sinh thái học lịch sử Hội An, cồn tự nhiên Cẩm Nam (thường gọi là Cồn Hến) như một tấm bình phong trên hạ lưu sông Thu Bồn. Nền kinh tế - xã hội tại đây mang đặc trưng nông - ngư nghiệp và thủ công truyền thống, phát triển song hành nhưng tương đối biệt lập với các trục phố trung tâm phía bờ Bắc.

Trước năm 1970, sự ngăn cách bởi các nhánh sông Thu Bồn (sông Hoài) khiến các hoạt động giao thương phụ thuộc vào hệ thống đò ngang, ghe thuyền, biến Cẩm Nam thành vùng “ngoại vi đơn độc” và tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn về an ninh đối với chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Trước nhu cầu khẩn thiết của việc xây dựng một tuyến giao thông cố định vượt sông nối liền Cẩm Nam với nội thị Hội An, đầu năm 1970, cầu Cẩm Nam được bắt đầu xây dựng. Trong quá trình thi công, tháng 12/1970, các trận lụt lớn liên tiếp tràn qua Hội An đã giáng đòn nặng nề vào dự án, cuốn trôi một lượng lớn khí tài và vật tư của đơn vị thi công.
Ngày 22/12/1970, Hội đồng kiểm tra tỉnh Quảng Nam họp khẩn cấp ngay tại địa điểm xây cất cầu Cẩm Nam để xác minh, lập biên bản chi tiết về các thiệt hại. Sự tàn phá của trận lụt không chỉ gây thâm hụt lớn về mặt tài chính công mà còn làm xói lở các mố đập vừa định hình, kéo lùi tiến độ và đẩy bộ máy điều hành địa phương vào thế bị động trước khi các đợt bão lũ tiếp theo ập tới.
Qua hồ sơ lưu trữ cho thấy, việc xây dựng cầu Cẩm Nam theo một cơ chế quản trị đặc trưng thời chiến, nơi quyết định kỹ thuật chịu sự chi phối tổng hòa của các yếu tố hành chính dân sự, lực lượng tác chiến công binh và nguồn viện trợ của Mỹ thông qua thiết chế Hội đồng An ninh và Phát triển tỉnh Quảng Nam.
Cuộc họp ngày 22/12/1970 thể hiện rõ mô hình điều hành phối hợp liên ngành. Hội đồng diễn ra dưới sự chủ tọa của Tỉnh trưởng tỉnh Quảng Nam, với sự tham gia của các thành viên đại diện cho các nhánh quyền lực khác nhau.
Do năng lực của các ty sở dân sự địa phương bị hạn chế trong hoàn cảnh chiến tranh, trọng trách thi công toàn bộ cầu Cẩm Nam được giao cho Tiểu đoàn 102 Công binh Chiến thuật (thuộc Liên đoàn 1 Công binh). Văn bản ngày 27/3/1971 của Tiểu đoàn 102 cho biết vai trò kép của lực lượng này khi vừa là đơn vị tác chiến cơ động, vừa trực tiếp quản lý, bảo vệ vật tư tại công trường.
Cùng với đó, với sự xuất hiện của ông W.J. Eckert thuộc cơ quan điều phối Chương trình Hỗ trợ phát triển Nông thôn và Dân sự (CORDS) minh chứng cho sự can thiệp của Mỹ vào hạ tầng tại Hội An. Bản trích toán cung cấp vật hạng ngày 17/2/1970 cho thấy cơ quan CORDS chịu trách nhiệm tài trợ và cung ứng các loại vật liệu cốt lõi, giá trị cao mà địa phương không tự túc được. Sự phụ thuộc này giúp công trình tiếp cận kỹ thuật cơ giới hiện đại nhưng cũng làm mất đi tính tự chủ của Tòa Hành chánh tỉnh khi mọi quy trình giải ngân đều phải qua sự xét duyệt của cố vấn Mỹ.
Một xung đột xã hội trong dự án cầu Cẩm Nam chính là việc chính quyền địa phương chuyển dịch gánh nặng tài chính sang khối cư dân nội thị Hội An thông qua các mệnh lệnh hành chính nghiêm ngặt.
Nhằm bù đắp vào các khoản chi phí phát sinh trong xây cầu Cẩm Nam, ngày 17/2/1970, Tỉnh trưởng tỉnh Quảng Nam ký văn thư thượng khẩn giao nhiệm vụ cho Ủy ban hành chánh xã Hội An tổ chức cuộc lạc quyên quy mô lớn. Để hợp thức hóa về mặt pháp lý, Tòa tỉnh phải “tục trình Bộ Nội vụ xin sớm ban hành Nghị định cho phép lạc quyên”.
Văn bản lưu trữ phơi bày tính chất áp đặt, bắt buộc của cuộc vận động này khi Tỉnh trưởng chỉ thị xã Hội An phải lập kế hoạch chi tiết nhằm “quyên tiền theo tiêu chuẩn định sẵn” và đưa ra quy định tối hậu: “Dự trù thêm việc kêu gọi nhân dân đóng với thêm tiền nếu xã Hội An thực hiện việc quyên góp chưa đủ số ấn định 1.500.000 đồng”. Điều này cho thấy “lạc quyên” thực chất là một dạng bổ thu thuế gián tiếp đánh vào tài sản của thị dân Hội An.
Về mặt nhân lực, dự án đòi hỏi một khối lượng lớn lao động phổ thông cho các hạng mục đào đắp nền đường dẫn và xử lý móng kè. Quyết định ngày 17/2/1970 chỉ định rõ: Đại úy Quận trưởng quận Hiếu Nhơn chịu trách nhiệm trực tiếp đôn đốc và điều động tổng lực nhân công. Ủy ban Hành chánh xã Cẩm Nam có nghĩa vụ lập kế hoạch huy động toàn diện lên tới 3.000 nhân công tại chỗ để cung ứng liên tục cho công trường của Tiểu đoàn 102 Công binh.
Con số 3.000 lao động là một tỷ lệ huy động cực kỳ lớn đối với một đơn vị hành chính cấp xã bán đảo nhỏ như Cẩm Nam thời điểm đó. Việc ép buộc một lượng lớn cư dân tham gia nghĩa vụ dân công, nghĩa là tước đi nguồn lao động cốt lõi của các ngành sản xuất bắp, cào hến truyền thống, tạo nên gánh nặng đè kép lên đời sống an sinh của người dân vùng rốn lũ.
Dù chịu tổn thất nặng nề sau trận lụt cuối năm 1970 và đối mặt với những phiền hà hành chính trong việc xin phép lạc quyên, nhưng sự can thiệp trực tiếp của Tiểu đoàn 102 Công binh cùng nguồn vật tư kịp thời từ cơ quan CORDS, công trình cầu Cẩm Nam tiếp tục được thúc đẩy và hoàn thành trong năm 1971.
Việc cây cầu bê tông cốt sắt chính thức đi vào hoạt động đã tạo nên bước ngoặt về hạ tầng giao thông, phá vỡ thế cô lập của cồn Hến (Cẩm Nam). Nhưng về mặt xã hội, cây cầu như một chứng tích cho sự gồng gánh quá sức của hàng ngàn người dân Cẩm Nam và khoản tiền “lạc quyên” bắt buộc của thị dân Hội An giữa thời chiến.