VHXQ - Ngày nay, khi tham quan ga tàu Đà Lạt, hay Bạch Dinh ở phường Vũng Tàu (Thành phố Hồ Chí Minh), mọi người thường nghe hướng dẫn viên nhắc đến dấu ấn của viên toàn quyền Đông Dương Paul Doumer - người chỉ đạo xây dựng tuyến đường sắt xuyên Việt, cầu Long Biên... Ông từng làm việc cho tờ báo “Le Républicain de l’Aisne” và “Le Radical” và đến Việt Nam năm 40 tuổi (1897).

Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer khởi xướng xây dựng tuyến đường sắt dài 3.200km tại Đông Dương từ năm 1898. Và hiện nay đề án của ông vẫn tiếp tục được nghiên cứu thực hiện.
Hải trình từ Marseille
Paul Doumer từng là một nhà báo, vì vậy thời sang An Nam giữ chức Toàn quyền Đông Dương nhiệm kỳ 5 năm (1897 - 1902), ông đã ghi chép tỉ mỉ xứ sở này. “Xứ Đông Dương” trở thành cuốn ký sự đầy chất văn chương của Paul Doumer.
Năm 1897, ông lên chiếc tàu ở Marseille, đi trong khoảng hơn 1 tháng để sang Việt Nam. Thời đó không có định vị vệ tinh, vì vậy hải đăng trên biển chính là vị thần cứu tinh cho các con tàu khi hành trình trong đêm.
Khi tàu Melbourne tiến vào Biển Đông và phải mò mẫm giữa đêm tối, Paul Doumer viết: “Ba giờ sáng, chỉ huy trưởng có vẻ lo lắng, ông làu bàu về việc có nên cho tàu chạy trong điều kiện biển như thế này hay không, vì không biết dòng nước đã đưa nó tới đâu? Lẽ ra phải nhìn thấy ngọn Hải đăng Côn Sơn ở mạn trái từ lâu rồi”.
Thời đó do chưa có trục quốc lộ, chưa có tuyến đường sắt, vì vậy nếu di chuyển qua 3 miền thì phần lớn đi tàu biển.
Tờ báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng thời đó thường đăng lịch tàu thủy đi từ Sài Gòn ra Đà Nẵng, ra Hải Phòng, hoặc từ Sài Gòn sang Pháp. Ví dụ như báo Tiếng Dân số 80, năm 1938 có đăng tin “Lãnh sự Tàu đến Hải Phòng”. Nội dung: “Chiếc tàu Canton cập bến Hải Phòng lúc 10 giờ sáng mai 24 November, có chở ông Tổng lãnh sự Trung Hoa là Hữu Niệm Tăng cùng viên phó lãnh sự Chung Chấn Quân.
Thời đó cũng chưa có đường xuyên Việt, giao thông chủ yếu bằng ghe bầu. Ngay trong năm 1897, Paul Doumer đã có chuyến công cán tới Đà Nẵng và phần lớn là đi bộ, đi ngựa, đi kiệu, vài đoạn đi ghe.
Paul Doumer viết về đèo Hải Vân: “Chúng tôi xuống và dắt ngựa, trong khi các quan triều đình vẫn yên vị trên võng và những người khiêng võng cúi gập người. Chắc hẳn có rất nhiều người vượt đèo, dấu chân họ vẫn còn in hằn thành những vết lồi lõm”.
.jpg)
Đại công trình - đường sắt
Vì giao thông ở Việt Nam thời đó hầu như ách tắc, nếu bộ hành trên những con đường đi bộ thì rất dễ bị cọp vồ. Năm 1896, Việt Nam chỉ có 2 tuyến đường sắt ngắn ở Sài Gòn đi Mỹ Tho và ở Lạng Sơn.
Paul Doumer đề cập chiến lược xây dựng 3.200km đường sắt toàn tuyến. Ông viết: “Đây chính là chương trình tôi đã thúc đẩy để thiết lập ngay từ khi đến nơi, và sau khi đã thiết lập xong, tôi kiên quyết triển khai chương trình này trong những năm tiếp theo”.
Kế hoạch xây dựng tuyến đường sắt tại xứ Đông Dương được chia làm 5 phần, bao gồm: Tuyến đường lớn đi từ Sài Gòn, qua khu vực Trung Kỳ, chạy qua Quy Nhơn, Đà Nẵng và Huế để ra Bắc Kỳ. Rồi tại Hà Nội xây dựng đường sắt tới biên giới Quảng Tây. Một tuyến đường ngang từ Hải Phòng về Hà Nội, đi ngược lại thung lũng sông Hồng, tới tận Lào Cai để sang Vân Nam.
Một tuyến đường ngang khác từ Quảng Trị đi Savannakhet, nối liền đoạn sông lớn của dòng Mê Kông tới bờ biển Trung Kỳ. Một tuyến chạy vào rặng núi phía nam của dãy Trường Sơn, theo dự kiến sẽ xuất phát từ Quy Nhơn hướng tới Kon Tum (hiện nay Việt Nam đang quy hoạch cao tốc Quảng Ngãi - Kon Tum). Cuối cùng, một tuyến đường nối Sài Gòn, để sau này kéo dài sang Xiêm La.
Sau đó Chính phủ Pháp đã thống nhất phương án xây dựng 1.700km đường sắt đầu tiên, chi phí 200 triệu phờ răng, mỗi kilomet tiêu tốn 100.000 phờ răng, nếu xây dựng đường sắt qua tuyến miền núi thì chi phí gấp đôi.
Đạo luật xây dựng đường sắt Đông Dương được thông qua và có hiệu lực vào ngày 28/12/1898, cho phép Phủ Toàn quyền Đông Dương vay 200 triệu phờ răng để xây dựng đường sắt.
Năm 1922 (dưới thời Toàn quyền Maurice Long), tuyến đường sắt Tháp Chàm - Đà Lạt được thi công qua địa thế rất hiểm trở, vì vậy có nhiều phu làm đường chết thảm. Người dân lưu truyền câu vè: ‘‘…Kẻ sụp đất người nghiến xương/ Kẻ bị hột nổ tan xương nát đầu/ Nói ra kẻ thảm người sầu/ Bất đắc kỳ tử thác sâu linh hồn”.

Đường sắt sau trăm năm
Ngày nay, các nhà nghiên cứu đánh giá Toàn quyền Paul Doumer là một viên quan thực dân gây tranh cãi, vì ông đã ban hành chính sách thuế nặng nề để có tiền xây dựng công trình, điều này khiến người dân An Nam phải è cổ ra nộp thuế. Nhưng Paul Doumer cũng là người kiến tạo, biến Việt Nam thời đó trở thành Hòn ngọc Viễn Đông.
Chỉ trong 1 nhiệm kỳ kéo dài 5 năm, khi điều kiện không có đường giao thông trên bộ, nhưng ông đã để lại các công trình bằng thép lớn thứ 2 trên thế giới, đó là cầu Paul Doumer (nay là cầu Long Biên) ở Hà Nội.
Ông còn cho xây dựng cầu Thành Thái (nay là cầu Tràng Tiền) ở Huế, cầu Bình Lợi ở Sài Gòn, cảng Hải Phòng, xây dựng và thành lập Trường Đại học Y dược Hà Nội; Bệnh viện Paul Doumer (Bệnh viện Bạch Mai hiện nay), chỉ đạo xây dựng Phủ toàn quyền Đông Dương (nay là Phủ Chủ tịch nước).
Năm 1902, Paul Doumer hết nhiệm kỳ và trở về Pháp. Sau này ông trở thành Tổng thống Pháp và bị ám sát. Kế hoạch đường sắt của ông được những người tiền nhiệm thực hiện kéo dài trong 38 năm. Ngày 2/9/1936, lễ siết bulông đường sắt cuối cùng tại Phú Yên, có sự tham gia của Toàn quyền Pháp René Robin và Hoàng đế Bảo Đại.
Ngày nay có nhiều tuyến, nhà ga trở thành điểm nhấn thu hút du khách, trong đó có ga Đà Lạt, công trình do 2 kiến trúc sư người Pháp Moncet và Revéron thiết kế. Nhà ga này có phong cách kiến trúc kết hợp giữa châu Âu và bản sắc Tây Nguyên với ba chóp nhọn của mái nhà ga mang biểu tượng núi Langbiang hùng vĩ.