Tạp văn

Lòn bon - Mùa về lại nhớ!

NHẬT ANH • 25/10/2026 06:30

ĐNCT - Phố Đà Nẵng bây giờ hẳn các sạp lồng ở chợ búa, ở siêu thị, ở các vỉa hè ngã tư, ngã bảy chắc cũng bày bán nhan nhản trái lòn bon. Tôi đoán thế, vì ở quê của lòn bon là vùng núi non mà mùa này ngõ chợ ít thấy bày bán lắm, chắc “em đi lên tỉnh ít ngày rồi”, mừng cho “em”!

1791777806137_7534563664024216780_7534563664024216780_6caf1492c2785648f6c893c20fbf1fe1.jpg
Chùm trái lòn bon trĩu quả trong mùa chín. Ảnh: N.A

Chiếc bóng vương triều

Tôi cho rằng sở dĩ lòn bon được người phố thị đón nhận và có được cái “vía may” ấy không phải nhờ vận “em” sang mà do phẩm “em” tốt. Khác với mùi thơm đậm của mít, của xoài khi chín, mùi lòn bon thơm dịu nhẹ, vị lòn bon ngọt thanh. Mùi vị đủ để ăn đỡ lúc đói lòng mà không xót, đủ để ủ men thành rượu lâng lâng mà không choáng váng.

Tôi chưa đến xứ Thánh Israel nhưng được nghe người bạn có chuyến viễn du về nói rượu nho ủ trong hũ của người Do Thái có vị dịu nhẹ lâng lâng tựa như rượu lòn bon quê mình.

Còn về giá trị sinh tồn thì đã thành giai thoại.

Chuyện rằng hoàng tôn Nguyễn Ánh khi thất thế phải lẩn trốn ở vùng rừng núi Quảng Nam, ông nhờ gặp được trái lòn bon mà qua những ngày đói khát. Do đó mà khi vương triều Nguyễn lên ngôi, lòn bon được vinh dự cung tiến hoàng gia, được ban mỹ danh Nam Trân và khắc lên Nhân đỉnh. Đó là biểu tượng của lòng ưu ái mà triều đình nhà Nguyễn dành cho xứ Quảng.

Tôi không thỏa lòng với giả thuyết nhiều phần mơ hồ đó mà luôn tự hỏi: Tại sao có lòng ưu ái đặc biệt đó? Trong nhiều nguyên nhân chắc chắn có nguyên nhân là sau đất phát tích Thanh Hóa, Quảng Nam cũng được xem là đất Thang Mộc thứ hai của các đời Chúa Nguyễn, là hậu phương vững chắc để nhà Nguyễn tính kế lâu dài trong mấy trăm năm Trịnh - Nguyễn phân tranh.

Sử cũ Đại Nam thực lục còn ghi rành rành lời Tiên Chúa Nguyễn Hoàng dặn lại cháu con: Đất Thuận Quảng có núi Ngang và sông Gianh hiểm trở, phía Nam có núi Hải Vân và núi Đá Bia vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh thì đủ để xây dựng cơ nghiệp muôn đời.

Giữa vùng đất dụng võ hiểm trở và kiên cường ấy, trái lòn bon như một sự chắt chiu ngọt lành của sản vật, để rồi trở thành chứng nhân cho một giai đoạn thăng trầm của lịch sử.

Nhưng trong dân gian vẫn còn giai thoại về dấu móng tay của hoàng tôn Nguyễn Ánh những ngày long đong trốn chạy? Thiết nghĩ ấy chỉ là dụng đặc điểm sinh học của loài mà nên huyền sử nhằm tán dương và huyền hóa chân mệnh của bậc đế vương khai sáng triều Nguyễn. Song huyền sử cũng là một phương cách hữu hiệu để triều đình khích lệ và nuôi dưỡng lòng trung thành của nhân dân xứ Quảng với triều đại. Là “dạy dân” vậy.

Sử tích đem đến cho người Đà Nẵng lòng kiêu hãnh khi sản vật được chọn tiến kinh là vinh dự, ban mỹ danh là vinh danh, mà phù điêu cùng cửu đỉnh là vĩnh hằng cùng triều đại. Vậy là lòn bon đã đại diện nhân dân mà nhận quốc tính, lĩnh thiết khoán thư son của vương triều. Trái lòn bon nhỏ bé, qua thăng trầm lịch sử, nay đã tựa như một bậc khai quốc công thần trong lòng người dân xứ Quảng.

Căn cước chân quê

Tuy thế, hãy đừng quá tự hào về vị trí sang trọng của mỹ tự Nam Trân mà quên rằng lòn bon ngày nào còn có một thân phận côi cút đáng thương: "Lụt nguồn trôi trái lòn bon/ Cha thác mẹ còn, con chịu mồ côi".

Đặt câu ca về phía xứ nguồn, nơi cây lòn bon sinh trưởng, ta mới cảm hết cái không gian quạnh quẽ và cái thời gian thê lương bủa vây số phận. Có gắn bó nhiều với xứ nguồn xưa, khi mà bầu trời đêm chỉ được thắp bằng ánh trăng và le lói ánh đèn dầu, nơi mà bốn bên vách núi, ta sẽ cảm nhận rõ nét nơi vùng núi đất trời như chật lại và thời gian như ngắn đi. Thân phận con người cũng theo đó mà trở nên bé nhỏ. Có lẽ vì vậy mà thi sĩ Tường Linh trong bài Hai miền thương đã rất ý tứ trong chọn chữ để viết nên câu “thương lòn bon Đại Lộc, nhớ rượu cần Trà My”. Là thương!

Và, nên chăng dừng đôi chút ở tên gọi: trái lòn bon hay quả bòn bon?

Trước hết, phương ngữ Nam Trung Bộ và Nam Bộ thường gọi “trái” mà không gọi là “quả”.

Và ở quê tôi, người địa phương gọi là “lòn bon” mà không gọi là “bòn bon”. Tên khai sinh cha mẹ đặt cho là thế, nó là “căn cước” của đất. Và nó phải được gọi đúng khai sinh!

Ngẫm về danh phận trái lòn bon, sao tôi thấy nó gần gũi với con người nhà quê quá! Một mặt nó cứ bị hút về phía cao sang, mặt khác nó cứ tự níu mình về phía chân quê, thành dấu ấn thân phận.

Tôi cứ ngẫm, hoàn cảnh khác nhau, sau trước khác nhau, mà sao lòn bon Đại Lộc, phở sắn Quế Sơn, ốc đá Tiên Phước, cao lầu Hội An trong cuộc hội nhập có điểm na ná giống nhau: không đủ mạnh để vươn xa nhưng không yếu để mất đi. Một lửng lơ trăn trở! Nhưng có lẽ, chính cái sự lửng lơ, níu giữ chút chân quê ấy lại là thứ khiến người đi xa phải nhớ, để mỗi mùa thu về, lòng lại vương vấn một niềm thương…

Và cứ như một lời mời gọi kẻ ly hương, người viễn xứ mau về, kíp đến. Để giữa không gian núi rừng, cây trái, chậm rãi thưởng thức một mùi vị đã nhuốm màu cổ điển của sơn thôn.

(0) Bình luận
x
Nổi bật
Lòn bon - Mùa về lại nhớ!
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO