ĐNO - Chiều 6/11, Quốc hội tiếp tục thảo luận tại tổ về dự án Luật Chuyển đổi số; dự án Luật Công nghệ cao (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ.

Tham gia thảo luận về dự án Luật Chuyển đổi số, đại biểu Đặng Thị Bảo Trinh (Đoàn đại biểu Quốc hội Đà Nẵng) cho rằng, về các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 5), dự thảo hiện mới dừng lại ở việc nêu 5 hành vi bị nghiêm cấm nhưng vẫn còn mang tính chung chung như “xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong hoạt động chuyển đổi số”, chưa bao quát được các hành vi vi phạm đặc thù của không gian số, nhất là liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và thuật toán tự động.
Đại biểu đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc bổ sung rõ các nhóm hành vi bị nghiêm cấm sau: cấm xây dựng, triển khai hoặc sử dụng thuật toán, hệ thống AI có khả năng hoặc mục đích gây phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, giới tính, tôn giáo, tình trạng sức khỏe hoặc đặc điểm cá nhân khác; cấm lợi dụng công nghệ số để kích động, chia rẽ xã hội, thao túng dư luận hoặc kỳ thị vùng miền trên không gian mạng; cấm sử dụng nền tảng số để trốn tránh nghĩa vụ pháp lý, như nghĩa vụ thuế, hợp đồng, hoặc nghĩa vụ báo cáo tài chính; truy cập trái phép, thay đổi, hủy hoặc làm sai lệch dữ liệu dẫn tới bỏ lọt tội phạm, gây mất an ninh kinh tế số hoặc cản trở hoạt động điều tra của cơ quan nhà nước.

Theo đại biểu, tại khoản 1, Điều 6 của dự thảo luật, chủ yếu mô tả hoạt động chuyển đổi số trong cơ quan nhà nước, chưa bao quát vai trò của doanh nghiệp, người dân và cộng đồng xã hội, trong khi đây là hai lực lượng lớn có vai trò quyết định thành công của chuyển đổi số.
Do vậy, đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc mở rộng phạm vi Điều 6; đồng thời bổ sung nguyên tắc khuyến khích toàn dân tham gia chuyển đổi số, thông qua chính sách đào tạo kỹ năng số, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh.
Tham gia thảo luận Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ, đại biểu Vương Quốc Thắng (Đoàn đại biểu Quốc hội Đà Nẵng) cho rằng, tại Điều 8 quy định Nhà nước tự động giao quyền đối với công nghệ có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, đây là một nỗ lực rất lớn nhằm tháo gỡ điểm nghẽn cho các kết quả nghiên cứu có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước trong việc góp vốn.
Tuy nhiên, quy định tự động giao quyền khi so sánh với khoản 2, Điều 25 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vẫn cho thấy chưa thật sự rõ ràng về thủ tục.
Vì vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo cần làm rõ cơ chế tự động này là như thế nào và phải đảm bảo sự đồng bộ tuyệt đối giữa Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và Luật Quản lý sử dụng tài sản công.

Về phân cấp thẩm định và cấp phép (Điều 29, Điều 30 và Điều 56), theo đại biểu Vương Quốc Thắng, dự thảo luật thực hiện phân cấp mạnh mẽ, chuyển thẩm quyền chấp thuận và cấp giấy phép chuyển giao công nghệ với những công nghệ hạn chế chuyển giao từ Bộ Khoa học và Công nghệ về cho UBND cấp tỉnh.
Tuy nhiên, cần phải đặt vấn đề về năng lực thẩm định của các địa phương đã đáp ứng được chưa; số lượng công nghệ có đủ nhiều để địa phương nào cũng phải xây dựng đội ngũ và cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu, có gây lãng phí không hay gây áp lực cho địa phương.
Bởi vì, công nghệ hạn chế chuyển giao là những công nghệ phức tạp, tiềm ẩn rủi ro về môi trường và an ninh, thậm chí là bí mật công nghệ.
Nếu không có đủ bộ tiêu chí kỹ thuật rõ ràng và nguồn lực chuyên gia đủ mạnh, việc phân cấp này dễ dẫn đến các nguy cơ như ách tắc ở địa phương do thiếu năng lực hoặc buông lỏng quản lý và có thể biến Việt Nam trở thành bãi rác công nghệ. Vì vậy, luật cần có quy định rõ về điều kiện và năng lực của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh trước khi thực hiện phân cấp.
Đối với quy định Nhà nước giao quyền sở hữu công nghệ cho tổ chức trực tiếp tạo ra công nghệ (khoản 1, Điều 8), đại biểu Đặng Thị Bảo Trinh đồng tình với tinh thần đổi mới mạnh mẽ của dự thảo luật khi chuyển từ cơ chế “Nhà nước sở hữu toàn bộ” sang “giao quyền sở hữu cho tổ chức tạo ra công nghệ”.
Đại biểu cho rằng, việc giao quyền sở hữu cho tổ chức trực tiếp tạo ra công nghệ như viện nghiên cứu, trường đại học sẽ tạo động lực mạnh mẽ để họ chủ động chuyển giao, thương mại hóa và góp vốn bằng công nghệ.
Tuy nhiên, đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc có cơ chế khuyến khích việc thương mại hóa, Nhà nước nên thiết lập cơ chế hỗ trợ đăng ký, bảo hộ và tư vấn pháp lý cho các tổ chức được giao quyền. Vì thực tế các viện, trường hiện thiếu năng lực pháp lý và tài chính trong việc xác lập, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Về quyền góp vốn bằng công nghệ và tự quyết định giá trị công nghệ góp vốn (khoản, 2 Điều 8), dự thảo quy định: “Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hoặc có quyền sử dụng hợp pháp công nghệ được quyền góp vốn bằng công nghệ vào dự án đầu tư hoặc doanh nghiệp; được tự quyết định giá trị công nghệ góp vốn...”.
Đại biểu Đặng Thị Bảo Trinh cho rằng, đây là bước mở thể hiện nguyên tắc tự do trong cam kết, tự nguyện trong thỏa thuận, tạo điều kiện thoáng cho các bên linh hoạt trong hoạt động đầu tư, khởi nghiệp, chuyển giao công nghệ.
Tuy nhiên, quy định này cũng sẽ tiềm ẩn mặt trái, đó là: quy định “tự quyết định giá trị công nghệ góp vốn” sẽ rơi vào tình trạng bị lợi dụng để nâng khống giá trị công nghệ, hình thành vốn không có thực, dẫn đến nguy cơ chuyển giá hoặc trốn thuế.
Đại biểu đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc điều chỉnh ngưỡng bắt buộc phải thuê tổ chức định giá độc lập đối với các thương vụ góp vốn bằng công nghệ có giá trị từ một mức nhất định trở lên, để bảo đảm tính khách quan, vừa ngăn ngừa gian lận giá trị.