Từ miền quê “5 tấn” anh hùng, đảng viên Nguyễn Văn Nghĩa mang tuổi xuân vào chiến khu Trà My, sống giản dị, kiên trung cùng đồng bào khai ruộng, đắp đập, dựng nên những mùa no ấm...

Sinh năm 1949 tại Thái Bình (nay là tỉnh Hưng Yên), sau khi tốt nghiệp Trường Nông nghiệp Thái Bình, ông Nghĩa được bố trí công tác tại Ty Nông nghiệp và kết nạp vào Đảng khi mới 20 tuổi. Trước mắt mở ra nhiều cơ hội: giảng dạy, đào tạo cán bộ cho quê hương “5 tấn”. Nhưng với lý tưởng cách mạng, ông chọn con đường khác, vào Nam theo sự điều động của tổ chức.
Đầu năm 1970, sau ba tháng hành quân xuyên rừng, vượt bom đạn bọc qua đất Lào, ông đặt chân đến chiến khu Trà My, khi con gái đầu lòng mới 7 ngày tuổi. Ở chiến khu, ông sống trọn với phong trào dân vận “ba cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) với đồng bào Co, Ca Dong, M’nông… Ông hướng dẫn khai hoang, làm ruộng nước, tích trữ lương thực, chống đói giáp hạt, vừa lo dân sinh vừa đảm bảo hậu cần cho khu ủy, bộ đội.
Núi rừng Trà My in đậm dấu chân ông từ làng Riềng, bảng Zút, suối Boa, núi Voi, sông Tong… Người dân vùng Trung Đạo, xã Zút (nay thuộc xã Tam Mỹ) vẫn kể về thửa ruộng, “con đập ông Nghĩa”, mảnh ruộng và con đập thủy lợi do chính ông khởi xướng, huy động dân làng góp sức, hướng dẫn kỹ thuật xây đắp để giữ nước, dẫn dòng tưới tiêu. Công trình nhỏ bé nhưng chứa chan nghĩa tình ấy giúp đồng bào có thêm lúa thóc, vượt qua những tháng ngày thiếu đói giữa khói lửa chiến khu.

Dù nhiều lần ngã quỵ vì sốt rét, chịu di chứng chất độc da cam, ông vẫn bám trụ, góp phần đảm bảo nguồn lương thực tại chỗ.
Sau ngày thống nhất, ông Nghĩa tiếp tục gắn bó với Trà My, nơi ông gửi trọn tuổi thanh xuân. Từ cán bộ, lãnh đạo phòng kinh tế, phó chủ tịch UBND huyện đến phó bí thư thường trực huyện ủy, ở cương vị nào ông cũng đau đáu tìm hướng phát triển kinh tế cho vùng cao.
Những năm 1990, khi quế Trà My rớt giá, đời sống người dân khó khăn, ông Nghĩa mạnh dạn đề xuất trồng keo lá tràm làm nguyên liệu công nghiệp. Ông vay 20 triệu đồng từ một người đồng đội để mua giống cây cấp cho dân. Ban đầu, chỉ vài hộ tin tưởng, trong đó có hai đảng viên tiêu biểu Nguyễn Thanh Mỹ và Lê Văn Trường.

Ông Nguyễn Thanh Mỹ sau đó làm Bí thư Đảng ủy xã Trà Dương, đã gương mẫu đi đầu, vận động bà con trồng keo theo hướng của ông Nghĩa. Nhờ đó, Trà Dương trở thành xã đầu tiên của Bắc Trà My về đích nông thôn mới năm 2015. Ông Lê Văn Trường, Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện, cũng tiên phong trồng keo, nhờ vậy kinh tế gia đình khấm khá, trở thành minh chứng sống động cho chủ trương đúng đắn.
Sự đồng hành của những đảng viên gương mẫu này củng cố niềm tin cho nhân dân, tạo thành phong trào lan rộng khắp Trà My. Chỉ sau 5 năm trồng keo, nhiều hộ thu được hàng chục triệu đồng, số tiền lớn thời đó. Cây keo trở thành cây “xóa đói giảm nghèo”, giúp hàng ngàn hộ dân thoát nghèo, nhiều hộ vươn lên khá giả. Ông Nghĩa còn chủ trì soạn thảo nghị quyết phát triển kinh tế, lấy trồng rừng làm trọng tâm, biến đồi trọc thành rừng xanh..., nhờ đó đời sống nhân dân đổi thay rõ rệt.
Dù nghỉ hưu, ông vẫn gắn bó công tác xã hội: làm chủ tịch hội chữ thập đỏ, rồi hội nạn nhân chất độc da cam cho đến khi hội cấp huyện giải thể. Ở tuổi ngoài 70, ông vẫn giản dị, mẫu mực, khiêm nhường, trọng chữ tín, là trung tâm đoàn kết ở thôn Đàn Bộ, xã Trà My.

Sự hy sinh, cống hiến của ông được ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý: từ giấy khen, bằng khen, chiến sĩ thi đua cấp tỉnh, bằng khen của Chính phủ đến Huân chương Lao động của Chủ tịch nước. Nhưng với ông, phần thưởng lớn nhất là được dân tin, dân nghe, dân làm theo, tạo ra hiệu quả thực sự: trong kháng chiến, làm tròn niềm tin tổ chức giao phó; trong thời bình, giúp bà con thay đổi cách nghĩ, cách làm để thoát nghèo bền vững.
Trải qua 76 năm tuổi đời, 56 năm tuổi Đảng, cuộc đời ông Nguyễn Văn Nghĩa là tấm gương sáng về người đảng viên mẫu mực: nói dân nghe, làm dân tin. Từ thửa ruộng, “con đập ông Nghĩa” ở vùng người Co đến những cánh rừng keo phủ xanh Trà My hôm nay, tất cả làm nên hình ảnh một cán bộ “âm thầm mà sáng ngời”, trọn vẹn nghĩa tình với Đảng, với dân và với quê hương thứ hai nơi đại ngàn Trà My. Ông xứng đáng là tấm gương để cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ noi theo, một biểu tượng học và làm theo Bác giản dị, trung kiên, nói ít làm nhiều, hết lòng vì nhân dân, vì quê hương, vì đất nước.