Văn hóa - Văn nghệ

Người đầu tiên đưa tôi lên bục giảng

PHẠM PHÚ PHONG 06/09/2026 09:40

ĐNCT - Đó là thầy giáo Bùi Ngọc Trác, Trưởng bộ môn Lý luận văn học và văn học Việt Nam hiện đại, khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Gia đình nhỏ của thầy Bùi Ngọc Trác. Ảnh: GĐCC
Gia đình nhỏ của thầy Bùi Ngọc Trác. Ảnh: GĐCC

Thầy Bùi Ngọc Trác cũng là người thầy hướng dẫn luận văn tốt nghiệp đại học của tôi, với đề tài "Tính Đảng như một phạm trù mỹ học". Bởi lẽ, khoa và Trường Đại học Huế gửi tôi ra Hà Nội, với mục đích sau này trở về để giảng dạy bộ môn mỹ học, nên đề tài tốt nghiệp của tôi nhằm đáp ứng yêu cầu đó.

Từ những tập giấy bao thuốc lá đến bục giảng

Người giỏi, người tài thời nào cũng có. Nhưng mỗi thời, có một cách dạy, một cách học khác nhau. Ngày nay người đi học, chỉ cần ghi vài chữ, vò quyển tập đút túi quần. Thậm chí, có người chỉ cần cầm máy tính hoặc điện thoại ghi chép, truy cập tài liệu liên quan, đôi khi không cần nghe lời thầy giảng.

Thời của tôi quay về giảng đường đại học là sau năm 1975, giấy mực quá khan hiếm, tôi lại là người hút thuốc nhiều, nên là ủi phẳng vỏ bao thuốc lá Lạng Sơn, Tam Đảo thời đó, rồi kẹp lại thành tập, đối với môn học nào mà mình yêu thích, hễ cứ thầy nói bất kỳ điều gì trên bục giảng, kể cả câu chuyện ngoài lề, hoặc các dẫn chứng, tôi đều ghi vào tập giấy bao thuốc lá ấy.

Đêm về, tôi ngồi soạn lại văn bản hoàn chỉnh vào tập giấy kẻ ngang, theo cách hiểu của riêng mình, làm bài học chính thức. Vì vậy, khi tốt nghiệp quay về trường làm giảng viên, tôi chỉ cần mấy tháng là hoàn chỉnh bài giảng môn mỹ học.

Năm 1982, khoa mời thầy Bùi Ngọc Trác vào dạy mỹ học cho năm thứ 3, tôi đưa giáo trình mình đã soạn nhờ thầy đọc giúp và ôm cặp lên lớp nghe thầy giảng. Thầy góp ý, chỉnh sửa cho tôi rất nhiều trong văn bản và yêu cầu tôi lên lớp “giảng thử”, còn thầy ngồi bên dưới nghe giảng.

Cứ mỗi tối về, sau bữa cơm, tại nhà khách của trường ở Morin, thầy góp ý cho tôi về những chỗ cần triển khai mở rộng, dẫn chứng để chứng minh, kết luận cần nhấn mạnh... thậm chí tác phong, đi lại, viết bảng, lối trình bày, dẫn dắt vấn đề. Trước khi thầy trở về Hà Nội, thầy để lại đề thi và đáp án cho tôi chấm, đồng thời viết nhận xét để lại, để bộ môn thông qua bài giảng cho năm sau tôi chính thức đứng lớp.

Có lẽ, bây giờ cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, thế hệ người học bây giờ giỏi hơn nhiều, không cần phải có người kèm cặp, dìu bước lên bục giảng như tôi được thầy ưu ái ngày ấy.

Nhưng, không biết những người làm nghề giáo có còn nhớ cái cảm giác giây phút lần đầu mình bước lên bục giảng hay không. Với tôi, cái cảm giác say nồng trong nụ cười, ánh mắt động viên, khích lệ của thầy còn nguyên vẹn trong ký ức, với niềm hạnh phúc và biết ơn thầy, người đã có một thời tuổi trẻ hy sinh cho đất nước và dành quãng đời còn lại cống hiến cho sự nghiệp trồng người.

Thầy Bùi Ngọc Trác sinh năm 1934, ở Khánh Cường, Yên Khánh, Ninh Bình. Thầy gia nhập quân đội (1953-1957), là thương binh, chuyển ngành về học khóa 3, khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1958-1961). Tốt nghiệp, thầy được giữ lại giảng dạy ở khoa Việt ngữ (1961-1964), rồi chuyển về giảng dạy ở khoa Văn (1964-1988), trước khi về công tác ở Ban Khoa giáo Trung ương (1988-1989).

Thầy đột ngột qua đời vào một buổi sáng mưa lũ ngập tràn, trong cái lạnh buốt thấu xương ở Hà Nội khi mới tròn 55 tuổi.

Người thức với mặt trời đêm

Là tiến sĩ về nghệ thuật học, các môn dạy chủ yếu của thầy Trác là Các phạm trù mỹ học, Nguyên lý văn học (sau này đổi thành Tiến trình văn học) và chuyên đề về sân khấu kịch nói Việt Nam.

Nói về sự cần mẫn và say mê nghiên cứu, khát vọng chiếm lĩnh tri thức chuyên môn của thầy, Phạm Thành Hưng từng gọi thầy là Người thức với mặt trời đêm, để sáng tạo nên những công trình có giá trị học thuật, đúc kết từ sự tích lũy của nhiều năm đứng trên bục giảng: Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và con đường phát triển của kịch Việt Nam (1978), Phấn đấu cho một nền sân khấu hiện thực xã hội chủ nghĩa (1978), Cơ sở lý luận văn học (1980), Tổng tập văn học Việt Nam, tập 34 (chủ biên, 1985), Nguyên lý văn học (1986)...

Thật khó hình dung, một thương binh trở về sau chiến tranh, lại cần mẫn, kiên trì và dốc hết tâm huyết vào công việc giảng dạy và nghiên cứu sáng tạo bền bỉ nhường ấy. Thầy bị thương trong chiến dịch Đông Xuân 1953-1954, đã có hai năm thập tử nhất sinh tại Quân Y viện, có lúc đã chết lâm sàng, người ta “khiêng xuống nhà xác, chuẩn bị làm thủ tục chôn cất, đột nhiên thầy tỉnh lại, thều thào lên tiếng: Đừng chôn! Tôi vẫn còn sống đây!” (Phạm Thành Hưng, Người thức với mặt trời đêm, in trong Mái ấm Văn 3, NXB Hội Nhà văn 2011, tr.161).

Sau này tôi còn biết, thời nằm ở Quân Y viện là thời gian thầy tự học ngoại ngữ. Không qua bất kỳ một trường lớp chính quy nào, chỉ bằng con đường tự học, thầy có thể sử dụng thành thạo cả ba thứ tiếng Anh, Pháp, Nga. Lại còn dịch cả tiểu thuyết Mùa hè kỳ lạ của nhà văn Xô Viết Phédin từ tiếng Nga sang tiếng Việt.

Tôi được nghe thầy giảng hai giáo trình: Các phạm trù mỹ học và chuyên đề Kịch nói Việt Nam. Lạ lắm, khi giảng bài thầy đứng yên một chỗ, nhìn xuống lớp, những người ngồi nghe như đông cứng lại, vì ai cũng có cảm giác thầy đang nhìn mình, thậm chí, nhìn xuyên qua mình, nhìn sâu vào tận tâm can người nghe.

Phạm Thành Hưng từng ký họa chân dung thầy một cách đậm nét ở đôi mắt, bộ râu quai nón và giọng nói: “Ai đã từng học thầy Bùi Ngọc Trác hẳn không thể quên đôi mắt trong lành, thẳm sâu đến quyến rũ của thầy. Nhiều nữ sinh viên dù biết thầy khi ấy đã có gia đình, vẫn nhìn trộm rồi thì thầm bàn luận về ông thầy trẻ, “mắt bồ câu, râu quai nón” Bùi Ngọc Trác. Quả là thầy có đôi mắt rất nét. Nét như mắt của một thục nữ. Nhưng, để bổ khuyết cho hình thức giới tính ấy, trời lại cho thầy một bộ râu quai nón xanh, dày. Vì phải liên tục cạo cho nghiêm chỉnh để giảng bài, bộ râu quai nón ấy cứ làm đôi má của thầy trước giờ lên lớp lại xanh ánh lên. Đúng là thứ màu xanh của thép không rỉ (...). Sinh viên vừa nghe thầy giảng, vừa ngắm thầy. Giọng thầy nhỏ nhẹ, trầm lắng. Thầy càng giảng say, lời thầy càng trở thành bài độc thoại nội tâm. Những lúc ấy, thầy như quên tất cả sinh viên trước mặt. Thầy nói như cho chính mình nghe, nói cho đôi mắt mình cũng chuyển thành màu xanh. Có điều đó là màu xanh hồ nước. Rất sâu và rất mơ màng”.

Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội) là nơi thầy Bùi Ngọc Trác từng giảng dạy và dìu dắt tác giả bài viết những bước đầu tiên trên bục giảng. Ảnh: Tư liệu

Món nợ ân tình

Là giảng viên đại học, vợ là nhà báo có tiếng tăm, cả hai con học giỏi, nhưng cuộc sống của thầy cũng chật vật, khó khăn. Căn hộ nhà thầy ở khu tập thể Lò Đúc của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội là ngôi nhà chật chội, tranh tre nứa lá, tường vách trét đất, theo đúng nghĩa đen là “nhà tranh vách đất”.

Tôi nhớ lúc ấy, khoa Văn ở đây còn có các thầy Nguyễn Kim Đính, Lê Đức Niệm, Nguyễn Trường Lịch, Lê Quang Thiêm... Nhưng lạ lắm, tôi không nói là cả Hà Nội mà chỉ những nơi các thầy tôi ở thời đó: Thầy Khỏa ở Trần Hưng Đạo, thầy Hiểu ở Hàng Bài, thầy Nguyễn Lộc ở Nguyễn Công Trứ, thầy Hà Minh Đức ở Hàng Ngang... và quý thầy ở quanh khu Lò Đúc cùng với thầy Trác của tôi, nhà thầy nào cũng chật, đời sống thầy nào cũng chật vật, khó khăn, nhưng tấm lòng của quý thầy rộng rinh như trời như biển.

Hồi đó, những sinh viên từ miền Nam ra học như tôi, cứ tưởng giàu lắm, có biết đâu tôi xuất thân từ làng quê nghèo khó, bị chiến tranh tàn phá, ngoài 18 đồng học bổng và tem phiếu, đủ để đóng cho bếp ăn tập thể. Tôi chỉ hơn các sinh viên khác 10 đồng tiền phụ cấp sinh hoạt phí của đơn vị cũ. Do vậy, mỗi lần đến thầy, cũng chỉ có... tấm lòng và cái bụng trống rỗng ngồi rón rén bên mâm cơm đạm bạc, mà cô Nhu là người nhiệt tình, nài ép giữ lại.

Trong những năm tháng học và làm luận văn tốt nghiệp ở Hà Nội, tôi cố gắng hạn chế ít đến nhà thầy. Bởi từ cư xá Thượng Đình, phải ngồi tàu điện mất hơn nửa tiếng, phải trả 5 xu tiền vé, đến bờ hồ Hoàn Kiếm phải đi bộ bốn, năm cây số mới đến nhà thầy, lại ngại cô Nhu vợ thầy cho ăn khi thì thứ này, khi thì thứ khác, mà tôi biết, gia đình không dễ gì mua sắm...

Năm 1990, tôi ra Hà Nội làm nghiên cứu sinh, cùng khóa với nhiều anh tài, trong đó có Phạm Xuân Nguyên. Một buổi sáng, Nguyên đưa tôi đến phố Hàng Chuối uống cafe cùng nhà văn Phạm Thị Hoài mới từ Đức về. Đúng là duyên may, tôi quen biết bắc cầu nhà báo Nguyễn Thùy Hương, đang công tác tại Báo Phụ nữ Việt Nam.

Trong câu chuyện lan man, tôi mới biết cô Bùi Hạnh Nhu từng là Ủy viên Ban Biên tập, nơi Thùy Hương làm việc, vừa mới nghỉ hưu và thầy Bùi Ngọc Trác của tôi vừa mới qua đời. Đêm ấy, tôi được Thùy Hương đưa đến căn hộ mới của thầy ở chung cư Đội Cấn, thắp một nén tâm nhang dâng lên bàn thờ, trong niềm tiếc thương vô hạn của một đứa học trò nhỏ ở phương xa.

Tôi năm nay cũng đã ngoài bảy mươi. Đã có trọn vẹn bốn mươi năm đứng trên bục giảng, không kể thời gian được mời dạy sau khi đã nghỉ hưu. Cho đến tuổi này, tôi mới nghiệm ra rằng, trong cuộc sống con người, có những thứ không thể cân đong, đo đếm được, đó là tình cảm thiêng liêng có ý nghĩa sinh thành.

Và, bất kỳ ai cũng có ngọn núi cao sừng sững không gì lay chuyển, xâm phạm nổi là tình yêu đối với mẹ cha, những người đã sinh ra mình. Với riêng tôi, còn có một mối cảm hoài lặng lẽ, tôi mang vác suốt cả cuộc đời, đó là lòng biết ơn người đã sinh thành cuộc đời thứ hai của mình: Đời nhà giáo. Người đó là thầy giáo Bùi Ngọc Trác, người nâng bước tôi đi, từ năm tôi vừa tròn 26 tuổi, cho đến nay.

(0) Bình luận
x
Nổi bật
Người đầu tiên đưa tôi lên bục giảng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO