Câu nói nổi tiếng của Lãnh tụ Fidel Castro “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình” luôn khắc sâu trong trái tim của các thế hệ người Việt Nam. Và qua hồi ký của nhà ngoại giao Hoàng Bích Sơn, chúng ta lại hiểu thêm tình bạn đặc biệt giữa hai dân tộc có cùng chung lý tưởng độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Tình cảm đặc biệt
Đồng chí Hoàng Bích Sơn tên thật là Hồ Liên, quê xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên cũ. Nối tiếp truyền thống cách mạng của gia đình, Hồ Liên đã sớm tham gia cách mạng. Sau cách mạng tháng 8/1945, đồng chí được phân công làm Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng huyện Duy Xuyên, rồi Bí thư Huyện ủy Duy Xuyên.
Tháng 5/1949, đồng chí được Liên khu ủy 5 điều động vào tăng cường cán bộ cho tỉnh Bình Thuận - một địa phương thuộc vùng địch tạm chiếm và cuộc kháng chiến của nhân dân nơi đây đang gặp rất nhiều khó khăn với đội ngũ cán bộ mỏng do chịu nhiều tổn thất, hy sinh. Tháng 8/1949, tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Thuận lần thứ I, đồng chí được bầu Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, rồi Quyền Bí thư, Bí thư Tỉnh ủy Bình Thuận.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, đồng chí tập kết ra miền Bắc và công tác tại Văn phòng Trung ương Đảng; cán bộ nghiên cứu trong Ban Quan hệ Bắc - Nam, Trưởng phòng miền Nam rồi Chánh Văn phòng của Ban Thống nhất Trung ương.
Tháng 5/1965, đồng chí Hoàng Bích Sơn được cử làm đại diện của Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tại Cộng hòa Cuba. Trong cuốn “Hồ Liên - Hoàng Bích Sơn, Nhà ngoại giao đất Việt”, ông viết: “Người Cuba tính tình cởi mở, sôi nổi… Thành phố La Habana là một trong những thành phố đẹp và hiện đại ở châu Mỹ, lối kiến trúc ở đây muôn màu muôn vẻ…”.
Có lẽ, đường lối cách mạng của Cuba có nhiều nét tương đồng với cách mạng Việt Nam, nên giữa Cuba và Việt Nam có những tình cảm anh em, đồng chí gắn bó sâu sắc với Việt Nam. Đặc biệt, đất nước và nhân dân Cuba đã dành cho đồng chí Hoàng Bích Sơn những tình cảm đặc biệt.
Trong bức thư gửi vợ từ La Habana, ngày 28/8/1965, Hoàng Bích Sơn đã viết: “Điều nổi bật ở đây là sự nhiệt tình đối với cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Không có ngày nào mà báo chí, đài phát thanh, đài vô tuyến truyền hình không nói đến miền Nam Việt Nam. Nhiệt tình đối với ta rất cao, nên ta cũng phải cố gắng đáp lại nhiệt tình của bạn, do đó anh em phái đoàn Mặt trận làm việc không kể giờ giấc”.
Trong bức thư gửi vợ từ La Habana ngày 10/10/1965, ông viết: “Em có biết không, trong những ngày này khắp Cuba đang sôi nổi chuẩn bị kỷ niệm ngày hy sinh của Nguyễn Văn Trỗi. Có lẽ không có nơi nào trên thế giới yêu mến Nguyễn Văn Trỗi như ở Cuba này”.
Cuộc gặp gỡ tại Quảng Trị và niềm tin quyết thắng
Do hoạt động tích cực của Phái đoàn đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam mà toàn thể những người yêu nước Cuba từ người già đến người trẻ đều ủng hộ nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược. Tinh thần đoàn kết giữa nhân dân Cuba với Việt Nam thật sự thấm sâu vào từng gia đình, từng người dân Cuba.

Trong thư gửi cho vợ từ Thủ đô La Habana ngày 24/12/1967, ông viết: “Đợt kỷ niệm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam năm nay ở đây rất sôi nổi. Cả nước có đến hàng nghìn cuộc mít tinh, triển lãm. Cuộc Lễ chính tại thủ đô có mấy chục vạn người dự, có đốt pháo mừng thắng lợi của Mặt trận. Tất cả cán bộ và các cơ quan khác của chính phủ đều tổ chức Lễ kỷ niệm thành lập Mặt trận. Có lẽ không nước nào nhiệt tình đối với ta như ở Cuba”.
Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử, tạo ra bước ngoặt mới cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc Việt Nam. Sau Hội nghị Paris, đồng chí Hoàng Bích Sơn được phân công cùng với các đồng chí ở Bộ Xây dựng chuẩn bị xây dựng trụ sở khu ngoại giao của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Cam Lộ, Quảng Trị.
Sau hơn một tháng, dưới sự chỉ đạo của Thứ trưởng Hoàng Bích Sơn, trụ sở khu ngoại giao đã hoàn thành và sẵn sàng hoạt động. Tháng 9/1973 tại trụ sở khu ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại vùng giải phóng Cam Lộ, Quảng Trị, đồng chí Hoàng Bích Sơn đã cùng với Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam vinh dự đón Chủ tịch Fidel Castro đến thăm vùng giải phóng Quảng Trị.
Tại vùng đất lửa trên đỉnh cao 241 thuộc xã Cam Chính, huyện Cam Lộ, Chủ tịch Fidel Castro đã phất cao Lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam. Hình ảnh đó in đậm trong tâm trí mọi người dân Việt Nam và trở thành biểu tượng cao đẹp của tình đoàn kết gắn bó, thủy chung giữa hai dân tộc và Nhân dân hai nước.
Đặc biệt, tại đây Chủ tịch Fidel Castro đã có lời phát biểu động viên tinh thần to lớn, tiếp thêm ý chí, sức mạnh cho quân và nhân dân Việt Nam quyết tâm đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn: “Vì Việt Nam Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình; các đồng chí hãy mang lá cờ bách chiến, bách thắng này cắm vào sào huyệt cuối cùng của chính quyền ngụy Sài Gòn”.
Những lời phát biểu chí nghĩa, chí tình và hùng hồn của Chủ tịch Fidel Castro tại vùng giải phóng Quảng Trị là nguồn động viên tinh thần to lớn, tiếp thêm ý chí, sức mạnh cho quân và dân Việt Nam quyết tâm đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn. Niềm tin đó đã thành hiện thực, chưa đầy hai năm sau, vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, lá cờ bách chiến, bách thắng tung bay trên nóc dinh Độc Lập, báo hiệu chính quyền Sài Gòn sụp đổ hoàn toàn, hai miền Nam - Bắc hoàn toàn thống nhất.
Nhà ngoại giao bản lĩnh của đất Việt
Sau khi miền Nam được giải phóng, đồng chí Hoàng Bích Sơn được bổ nhiệm làm Trưởng ban Ngoại vụ Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn.
Tháng 8/1982, đồng chí Hoàng Bích Sơn được cử làm Trưởng Phái đoàn đại diện nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tại Liên hợp quốc.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở Liên hợp quốc, đồng chí về nước và được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiêm Trưởng ban Việt kiều Trung ương (nay là Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài).
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được cử làm Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng, đại biểu Quốc hội khóa VIII, Ủy viên Hội đồng Nhà nước. Trên cương vị này, đồng chí Hoàng Bích Sơn đã có nhiều đóng góp trong việc thực hiện đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, phá thế bao vây, cấm vận, mở rộng quan hệ quốc tế và góp phần không nhỏ vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Sau hơn 50 năm công tác liên tục, năm 1997 do sức khỏe giảm sút, đồng chí nghỉ hưu và từ trần ngày 13/3/2000. Suốt đời cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đồng chí Hoàn Bích Sơn luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, nêu cao tấm gương về lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, luôn giữ gìn đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Với những cống hiên hy sinh vô cùng to lớn đó, đồng chí Hoàng Bích Sơn vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng: Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng; Huy hiệu Vì sự nghiệp Ngoại giao Việt Nam.
Hơn 30 năm hoạt động trong lĩnh vực đối ngoại của Đảng và Nhà nước (1965 - 1997), đồng chí Hoàng Bích Sơn đã có nhiều đóng góp vào sự phát triển chung của nền ngoại giao Việt Nam. Nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày sinh của đồng chí Hoàng Bích Sơn (20/1/1904 - 20/1/2014), vào tháng 1/2014, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia và gia đình đã xuất bản và tổ chức lễ ra mắt cuốn sách “Hồ Liên-Hoàng Bích Sơn nhà ngoại giao đất Việt”. Cuốn sách do Phạm Thị Xuân Khải và Hồ Thị Thu Hà biên soạn, thể hiện chân dung nhà ngoại giao bản lĩnh của đất Việt, góp phần vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.