Cách đây 80 năm, Cách mạng Tháng Tám 1945 là một trong những sự kiện vĩ đại của dân tộc ta trong thế kỷ XX, đưa đến việc ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Cách mạng Tháng Tám thành công là kết quả của sự thống nhất ý chí, tổ chức và hành động của toàn Đảng, toàn dân dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Tổng Bí thư Trường Chinh - người được xem là nhà kiến trúc sư tài ba của cuộc Cách mạng Tháng Tám.
.jpg)
1. Ở Đông Dương, sau sự kiện phát xít Đức tấn công Ba Lan (1/9/1939) chính thức mở màn cho cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, thực dân Pháp tăng cường đàn áp, khủng bố, tiêu diệt Đảng ta. Các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Lê Hồng Phong, Lê Duẩn... và một số đồng chí Trung ương khác bị bắt. Trước tình hình đó, với trách nhiệm là một Xứ ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, đồng chí Trường Chinh đã trao đổi, bàn bạc tập thể và đi đến quyết định phải khôi phục Trung ương Đảng.
Tháng 11/1940, các đồng chí Trường Chinh, Phan Đăng Lưu, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh... đã họp Hội nghị lần thứ 7 của Trung ương Đảng. Hội nghị nhận định: “Cuộc chiến tranh thế giới ngày càng lan rộng, ác liệt, đế quốc Pháp đã bị thua phát xít Đức, bọn phát xít Nhật sẽ nhân cơ hội này mở rộng chiến tranh cướp giật các thuộc địa của Pháp, Mỹ, Anh ở Viễn Đông. Cuộc chiến tranh đế quốc rất có thể chuyển thành chiến tranh giữa đế quốc và Liên Xô. Bọn đế quốc sẽ mau chóng bị Hồng quân Liên Xô và cách mạng thế giới tiêu diệt”.
Hội nghị đặt hẳn vấn đề khởi nghĩa vũ trang vào chương trình và quyết định thành lập Trung ương lâm thời do đồng chí Trường Chinh làm Quyền Tổng Bí thư.
Sau Hội nghị Trung ương 7, đồng chí Hồ Chí Minh về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Trước chuyển biến mau lẹ của thời cuộc, với tư cách đại biểu Quốc tế Cộng sản, Người triệu tập Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng tại Pắc - bó từ ngày 10 đến 19/5/1941.
Hội nghị đã phân tích tình hình, nhận định rất sáng suốt rằng, “phát xít Đức sẽ đánh Liên Xô, chiến tranh Thái Bình Dương sẽ bùng nổ”. Hội nghị cũng dự đoán thiên tài: “Nếu cuộc chiến tranh đế quốc lần trước đẻ ra Liên Xô, một nước XHCN, thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước XHCN, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”.
Hội nghị nhất trí với Nghị quyết Trung ương về Cách mạng Đông Dương do đồng chí Trường Chinh soạn thảo. Và, chính thức bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới do đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư.
Sau khi chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, ngày 21/12/1941, đồng chí Trường Chinh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã kịp thời ra thông cáo “Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và trách nhiệm cần kíp của Đảng”, trong đó phân tích rõ vì sao phát xít Nhật gây ra chiến tranh Thái Bình Dương, triển vọng thắng lợi của các lực lượng dân chủ và sự thất bại tất yếu của bọn phát xít.
Thông cáo chỉ rõ: “Không được ảo tưởng cho rằng, quân Tưởng hoặc quân Anh, Mỹ vào Đông Dương sẽ mang lại tự do cho ta. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập, cố nhiên ta phải kiếm bạn đồng minh, dù là bạn đồng minh tạm thời, bấp bênh, có điều kiện, nhưng sự nghiệp giành lại độc lập, tự do phải do ta làm lấy”.
Cũng trong tháng 12/1941, Trung ương Đảng, đứng đầu là đồng chí Trường Chinh, đã ra Chỉ thị về công tác tổ chức, nhấn mạnh phương châm khoa học trong công tác tổ chức và yêu cầu: “Tổ chức Đảng phải thật chặt chẽ, nghiêm ngặt, còn tổ chức quần chúng thì phải rộng rãi, nhẹ nhàng”. Có thể nói, nội dung Chỉ thị đã kịp thời vạch ra cho các cấp bộ Đảng trong cả nước phương hướng và biện pháp cụ thể về công tác tổ chức, tăng thêm sức mạnh của Đảng, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo cuộc khởi nghĩa vũ trang trong những giờ phút quyết định của dân tộc ta.
2. Một đóng góp quan trọng khác của đồng chí Trường Chinh là đã trực tiếp soạn thảo kế hoạch bảo vệ Đảng, tổ chức An toàn khu. Chính nhờ đó, các căn cứ địa cách mạng ở vùng rừng núi được củng cố, lực lượng cách mạng được bảo toàn.
.jpg)
Khu An toàn của Ban Thường vụ Trung ương Đảng vốn được xây dựng từ năm 1940 ở vùng ngoại thành Hà Nội, mấy huyện chung quanh và một phần các tỉnh Phúc Yên, Hà Đông, Bắc Ninh, tiếp tục được củng cố và mở rộng vững vàng hơn. Đồng thời, có thêm Khu An toàn dự bị của Ban Thường vụ Trung ương được xây dựng trên đất 3 huyện: Hiệp Hòa (Bắc Giang), Phúc Bình và Phổ Yên (Thái Nguyên).
Cơ quan đầu não của Đảng chuyển về đóng ở nông thôn. Ban Thường vụ Trung ương bám sát Hà Nội để tiện theo dõi thời cuộc, bắt mạch phong trào và chỉ đạo toàn Đảng. Có thể nói, đây là một chủ trương rất tích cực và sáng tạo của đồng chí Trường Chinh, giúp Ban Thường vụ Trung ương kịp thời phát động cao trào chống Nhật, cứu nước một cách mạnh mẽ và sâu rộng.
Ngày 7/5/1944, trước âm mưu của Nhật muốn truất quyền của Pháp để độc chiếm Đông Dương, đồng chí Trường Chinh viết chỉ thị “Sửa soạn khởi nghĩa”, thúc đẩy hơn nữa việc xây dựng lực lượng để khởi nghĩa giành chính quyền. Không chỉ dừng lại ở việc đưa ra chỉ thị, lời kêu gọi, đồng chí Trường Chinh và Ban Thường vụ Trung ương luôn theo dõi sát sao tình hình ở các địa phương, từ việc phát triển và củng cố các Hội Cứu quốc, các đội tự vệ, mua sắm vũ khí đến phát hành tín phiếu để lấy tiền chi tiêu vào việc chuẩn bị khởi nghĩa.
Đúng như dự đoán của đồng chí Trường Chinh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng, đêm 9/3/1945, Nhật nổ súng đánh Pháp. Ngay cùng một lúc, trên toàn Đông Dương, Pháp đầu hàng nhanh chóng.
Lúc Nhật nổ súng đảo chính Pháp cũng là lúc Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng, do đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh triệu tập, bắt đầu họp ở làng Đình Bản (Từ Sơn, Bắc Ninh), cách Hà Nội hơn 16km.
Tại Hội nghị quan trọng này, đồng chí Trường Chinh nhận định: “Việc Nhật đảo chính Pháp cũng không thể làm cho Nhật đứng lâu trên mảnh đất Đông Dương. Quyền thống trị của Nhật ở Đông Dương nhất định sẽ tan rã. Pháp đã bị đánh bại nên kẻ thù chính cụ thể, trước mắt của cách mạng Đông Dương là phát xít Nhật”. Vì vậy, khẩu hiệu: “Đánh đuổi phát xít Nhật, Pháp” trước đây phải được thay bằng khẩu hiệu: “Thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân Đông Dương, chống lại chính quyền Nhật và chính quyền bù nhìn của bọn Việt gian thân Nhật”.
Ngày 12/3/1945, đồng chí Trường Chinh trực tiếp soạn thảo bản Chỉ thị nổi tiếng: “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, phân tích sâu sắc tình thế mới, điều kiện mới, cục diện mới của cách mạng Đông Dương, chiến lược, chiến thuật của Đảng. Tư tưởng chỉ đạo có tính chất bao trùm của Chỉ thị là: “Cần hành động ngay, hành động kiên quyết, nhanh chóng, chủ động, sáng tạo với quyết tâm: “Thắng lợi cuối cùng nhất định về tay chúng ta”.
Có thể khẳng định, bản Chỉ thị lịch sử này là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và Mặt trận Việt Minh trong cao trào kháng Nhật, cứu nước và có tác dụng quyết định trực tiếp đến thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.
Từ đây, cách mạng Việt Nam bước sang một thời kỳ mới - thời kỳ tiền khởi nghĩa, thời kỳ cao trào kháng Nhật, cứu nước. Để rồi, khi thời cơ cách mạng đến, chỉ trong vòng chưa đầy hai tuần lễ, quyền thống trị của bọn đế quốc được xây dựng ngót một trăm năm và chế độ quân chủ tồn tại hàng nghìn năm ở nước ta đã bị lật nhào. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, chính quyền đã về tay nhân dân.
Rõ ràng, cuộc Cách mạng Tháng Tám - 1945 nhờ được chuẩn bị khá chu đáo, đặc biệt là chuẩn bị về đường lối, nghệ thuật khởi nghĩa, xác định rõ kẻ thù chính cần đánh đổ, nắm chắc thời cơ, tổ chức lực lượng chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động của toàn Đảng, toàn dân nên thắng lợi nhanh, gọn, ít đổ máu. Lịch sử luôn ghi nhớ vai trò quan trọng và những cống hiến xuất sắc của nhà kiến trúc sư tài ba của cuộc cách mạng vĩ đại này - đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh!