Giá vàng hôm nay 31/10/2025 lúc 09h30, vàng thế giới giảm về mức 4.012,0 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng SJC hiện giao dịch ở mức 148,9 triệu đồng/lượng; vàng nhẫn SJC ở mức 147,2 triệu đồng/lượng.
Tính đến thời điểm 09h30 ngày 31/10/2025, giá vàng miếng SJC hôm nay tại Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng ghi nhận mức giá mua vào đạt 146,9 triệu đồng/lượng, tăng 1,1 triệu đồng so với phiên trước. Giá bán ra cũng tăng tương ứng, ở mức 148,9 triệu đồng/lượng.
Giá vàng miếng SJC ở tập đoàn DOJI cũng không nằm ngoài xu hướng tăng khi niêm yết giá mua vào và bán ra lần lượt là 146,9 triệu đồng/lượng và 148,9 triệu đồng/lượng, tăng 1,1 triệu đồng ở cả hai chiều.
Giá vàng miếng SJC tại Mi Hồng tiếp tục dẫn đầu về giá mua vào với mức 147,5 triệu đồng/lượng, tăng 1 triệu đồng so với hôm qua. Giá bán ra của Mi Hồng cũng được điều chỉnh lên 148,9 triệu đồng/lượng, tăng 1,1 triệu đồng.
PNJ giữ vững đà tăng khi giá vàng SJC hôm nay 31/10/2025 được niêm yết ở mức 146,9 triệu đồng/lượng mua vào và 148,9 triệu đồng/lượng bán ra, tăng 1,1 triệu đồng ở cả hai chiều so với phiên trước đó.
Tại ACB, giá vàng SJC điều chỉnh giá bán ra lên 148,9 triệu đồng/lượng, tăng 1,1 triệu đồng.
Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng miếng SJC mua vào được điều chỉnh lên 147,4 triệu đồng/lượng, tăng 900 nghìn đồng, trong khi giá bán ra tăng 1,1 triệu đồng, đạt 148,9 triệu đồng/lượng.
Cuối cùng, Phú Quý cũng ghi nhận sự tăng giá đồng đều với mức mua vào 146,4 triệu đồng/lượng và bán ra 148,9 triệu đồng/lượng, tăng 1,1 triệu đồng ở cả hai chiều.
Cùng thời điểm vào lúc 09h30 ngày 31/10/2025, giá vàng nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng của DOJI được niêm yết ở mức 145,8 triệu đồng/lượng (mua) và 148,8 triệu đồng/lượng (bán), tăng 1,1 triệu đồng/lượng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với ngày trước, với mức chênh lệch mua - bán là 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng Bảo Tín Minh Châu giữ giá vàng nhẫn ở mức 146,5 triệu đồng/lượng (mua) và 149,5 triệu đồng/lượng (bán), tăng 600 nghìn đồng/lượng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với đầu giờ sáng, với chênh lệch 3 triệu đồng/lượng.
Tập đoàn Phú Quý cũng niêm yết giá vàng nhẫn ở mức 145,9 triệu đồng/lượng (mua) và 148,9 triệu đồng/lượng (bán), tăng 1,1 triệu ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với ngày hôm qua, với mức chênh lệch mua - bán là 3 triệu đồng/lượng.

Tính đến thời điểm 05h00 ngày 31/10/2025, giá vàng miếng SJC hôm nay tại Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng ghi nhận giá mua vào ở mức 145,8 triệu đồng/lượng và giá bán ra 147,8 triệu đồng/lượng.
Tập đoàn DOJI công bố giá vàng SJC mua vào và bán ra lần lượt ở mức 145,8 triệu đồng/lượng và 147,8 triệu đồng/lượng.
Mi Hồng niêm yết giá vàng miếng SJC chiều mua vào 146,5 triệu đồng/lượng và giá vàng SJC bán ra 147,8 triệu đồng/lượng.
PNJ cũng giữ giá vàng mua vào ở 145,8 triệu đồng/lượng và giá bán ra 147,8 triệu đồng/lượng.
Tại ACB, giá vàng SJC bán ra vẫn được niêm yết ở mức 147,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng Bảo Tín Minh Châu, có giá mua vào 146,5 triệu đồng/lượng và bán ra 147,8 triệu đồng/lượng.
Cuối cùng, Phú Quý niêm yết giá vàng miếng SJC chiều mua vào vẫn ở mức 145,3 triệu đồng/lượng và giá bán ra giữ nguyên 147,8 triệu đồng/lượng.
Cùng thời điểm vào lúc 05h00 ngày 31/10/2025, giá vàng nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng của DOJI được niêm yết ở mức 144,7 triệu đồng/lượng (mua) và 147,7 triệu đồng/lượng (bán), chưa ghi nhận diễn biến mới ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với ngày trước, với mức chênh lệch mua - bán là 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng Bảo Tín Minh Châu giữ giá vàng nhẫn ở mức 145,9 triệu đồng/lượng (mua) và 148,9 triệu đồng/lượng (bán), đang đi ngang ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với đầu giờ sáng, với chênh lệch 3 triệu đồng/lượng.
Tập đoàn Phú Quý cũng niêm yết giá vàng nhẫn ở mức 144,8 triệu đồng/lượng (mua) và 147,8 triệu đồng/lượng (bán), hiện chưa có thay đổi mới ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với ngày hôm qua, với mức chênh lệch mua - bán là 3 triệu đồng/lượng.
| Giá vàng hôm nay | Ngày 31/10/2025 (Triệu đồng) | Chênh lệch (nghìn đồng/lượng) | ||
| Mua vào | Bán ra | Mua vào | Bán ra | |
| SJC | 146,9 | 148,9 | +1100 | +1100 |
| Tập đoàn DOJI | 146,9 | 148,9 | +1100 | +1100 |
| Mi Hồng | 147,5 | 148,9 | +1000 | +1100 |
| PNJ | 146,9 | 148,9 | +1100 | +1100 |
| ACB | 148,9 | +1100 | ||
| Bảo Tín Minh Châu | 147,4 | 148,9 | +900 | +1100 |
| Phú Quý | 146,4 | 148,9 | +1100 | +1100 |
| 1. DOJI - Cập nhật: 31/10/2025 09:30 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| AVPL/SJC HN | 146.900 ▲1100K | 148.900 ▲1100K |
| AVPL/SJC HCM | 146.900 ▲1100K | 148.900 ▲1100K |
| AVPL/SJC ĐN | 146.900 ▲1100K | 148.900 ▲1100K |
| Nguyên liệu 9999 - HN | 141.800 ▲1100K | 143.800 ▲1100K |
| Nguyên liệu 999 - HN | 141.600 ▲1100K | 143.600 ▲1100K |
| 2. PNJ - Cập nhật: 31/10/2025 09:30 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Khu vực | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| TPHCM - PNJ | 146.900 ▲1100K | 148.900 ▲1100K |
| Hà Nội - PNJ | 146.900 ▲1100K | 148.900 ▲1100K |
| Đà Nẵng - PNJ | 146.900 ▲1100K | 148.900 ▲1100K |
| Miền Tây - PNJ | 146.900 ▲1100K | 148.900 ▲1100K |
| Tây Nguyên - PNJ | 146.900 ▲1100K | 148.900 ▲1100K |
| Đông Nam Bộ - PNJ | 146.900 ▲1100K | 148.900 ▲1100K |
| 3. AJC - Cập nhật: 31/10/2025 09:30 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Miếng SJC Hà Nội | 14,580 - | 14,780 - |
| Miếng SJC Nghệ An | 14,580 - | 14,780 - |
| Miếng SJC Thái Bình | 14,580 - | 14,780 - |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội | 14,480 - | 14,780 - |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An | 14,480 - | 14,780 - |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình | 14,480 - | 14,780 - |
| NL 99.99 | 13,880 - | - |
| Nhẫn tròn ko ép vỉ T.Bình | 13,880 - | - |
| Trang sức 99.9 | 13,870 - | 14,770 - |
| Trang sức 99.99 | 13,880 - | 14,780 - |
| 4. SJC - Cập nhật: 30/10/2025 09:30 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 146.900 ▲1100K | 148.900 ▲1100K |
| Vàng SJC 5 chỉ | 146.900 ▲1100K | 148.920 ▲1100K |
| Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ | 146.900 ▲1100K | 148.930 ▲1100K |
| Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ | 144.700 ▲1100K | 147.200 ▲1100K |
| Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ | 144.700 ▲1100K | 147.300 ▲1100K |
| Nữ trang 99,99% | 143.200 ▲1100K | 146.200 ▲1100K |
| Nữ trang 99% | 140.252 ▲1089K | 144.752 ▲1089K |
| Nữ trang 68% | 92.075 ▲748K | 99.575 ▲748K |
| Nữ trang 41,7% | 53.621 ▲458K | 61.121 ▲458K |
Biểu đồ được tính đến lúc 09h30 ngày 31/10/2025 (triệu đồng/lượng):
.jpeg)
Tính đến 09h30 ngày 31/10/2025 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay mức 4.012,0 USD/ounce. Giá vàng hôm nay ghi nhận giảm 11,6 USD/ounce so với ngày hôm qua. Quy đổi theo tỷ giá USD tại ngân hàng Vietcombank (26.345 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 131,73 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). So sánh với giá vàng miếng SJC trong nước cùng ngày (146,9-148,9 triệu đồng/lượng), giá vàng SJC hiện cao hơn giá vàng quốc tế khoảng 17,17 triệu.

Thị trường vàng toàn cầu chứng kiến màn hồi phục ngoạn mục sau khi Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Jerome Powell đưa ra những phát biểu mang sắc thái “diều hâu” hơn dự kiến trong cuộc họp chính sách tiền tệ hôm thứ Tư. Dù FED đã cắt giảm lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm – đúng như dự báo – nhưng thông điệp cứng rắn của ông Powell nhanh chóng đảo chiều tâm lý giới đầu tư.
Ông Powell thẳng thắn cảnh báo rằng việc tiếp tục hạ lãi suất trong tháng 12 là điều “chưa thể khẳng định”, hé lộ sự chia rẽ ngày càng sâu trong nội bộ FED về cân bằng giữa tăng trưởng việc làm và kiểm soát lạm phát. Giọng điệu quyết liệt này lập tức khiến trái phiếu Kho bạc Mỹ bị bán tháo, lợi suất tăng vọt và kỳ vọng cắt giảm lãi suất vào tháng cuối năm chỉ còn ở mức trung bình.
Theo Bloomberg, sự bất đồng trong nội bộ FED ngày càng rõ rệt: trong khi một số thành viên lo ngại thị trường lao động đang nguội dần, những người khác lại tập trung vào rủi ro lạm phát kéo dài. Việc tạm ngưng công bố dữ liệu kinh tế trong giai đoạn chính phủ Mỹ đóng cửa càng khiến bức tranh trở nên khó đoán định.
Song song với biến động chính sách tiền tệ, các ngân hàng trung ương trên toàn cầu tiếp tục tăng tốc tích trữ vàng. Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho biết, trong quý III, lượng mua vàng đạt 220 tấn, tăng 28% so với quý trước. Tính trong 9 tháng đầu năm, tổng lượng mua đã vọt lên 634 tấn, cho thấy xu hướng “ôm vàng” vẫn chưa hạ nhiệt dù giá đang ở vùng đỉnh lịch sử.
WGC dự báo, tổng lượng mua vàng trong năm 2025 có thể dao động từ 750 đến 900 tấn, được thúc đẩy bởi căng thẳng địa chính trị leo thang, lạm phát kéo dài và bất ổn thương mại toàn cầu. Trong bối cảnh niềm tin vào đồng USD suy giảm, vàng một lần nữa khẳng định vai trò “pháo đài an toàn” trong danh mục dự trữ quốc gia.
Trên thị trường tài chính quốc tế, chỉ số đồng USD tăng liên tiếp và chạm mức cao nhất trong ba tháng, trong khi giá dầu thô đi ngang quanh 60,50 USD/thùng. Lợi suất trái phiếu Mỹ kỳ hạn 10 năm neo ở mức 4,078%. Thông thường, USD mạnh sẽ gây áp lực giảm lên vàng – song diễn biến lần này lại hoàn toàn ngược lại.
Theo Kitco News, giá vàng thế giới vẫn tăng vọt trong tuần này, cho thấy lực cầu trú ẩn đang áp đảo ảnh hưởng của tỷ giá. Dữ liệu từ WGC cho thấy nhu cầu vàng toàn cầu tăng 3% so với cùng kỳ năm trước, đạt 1.313 tấn, chủ yếu nhờ dòng tiền mạnh mẽ từ các quỹ ETF và nhà đầu tư cá nhân. Tâm lý “sợ bỏ lỡ cơ hội” (FOMO) kết hợp với căng thẳng địa chính trị đã tạo làn sóng mua vàng mới, bất chấp giá cao.
Đáng chú ý, khác với các chu kỳ tăng trước – khi giá cao thường kìm hãm sức mua – đợt tăng lần này dường như không khiến nhà đầu tư chùn tay. WGC vẫn giữ quan điểm lạc quan, cho rằng hoạt động mua vào của các ngân hàng trung ương sẽ duy trì ở mức cao trong phần còn lại của năm.
Những diễn biến mới trong quan hệ thương mại Mỹ - Trung, đặc biệt là thỏa thuận tạm thời về khoáng sản và đất hiếm, đã góp phần củng cố sức mạnh của đồng USD. Trong hai ngày liên tiếp, chỉ số đô la Mỹ tăng 0,41% và 0,38%. Dù vậy, giá vàng vẫn thể hiện sức bật đáng kinh ngạc – tăng gần 100 USD/ounce chỉ trong một phiên.
Trên sàn Comex, hợp đồng tương lai vàng giao tháng 12 – loại được giao dịch sôi động nhất – đã tăng 98,3 USD/ounce, tương đương 2,51%, chốt ở 4.039,8 USD/ounce. Cả giá vàng giao ngay và kỳ hạn đều vượt ngưỡng tâm lý 4.000 USD/ounce, củng cố tâm lý lạc quan trong giới đầu tư.
Việc vàng và USD cùng tăng – vốn là điều hiếm thấy – cho thấy một sự chuyển dịch động lực thị trường: dòng vốn toàn cầu đang tìm đến vàng không chỉ như hàng hóa, mà còn như biểu tượng của niềm tin và an toàn trong thời kỳ bất ổn.
Với việc Chính phủ Mỹ vẫn đang đóng cửa, tuần tới sẽ có rất ít dữ liệu kinh tế được công bố. Thay vào đó, các ngân hàng trung ương tiếp tục trở thành tâm điểm, trong đó quyết định lãi suất của FED là sự kiện được thị trường quan tâm nhất.
Thứ Ba (ngày 28/10/2025): Niềm tin tiêu dùng Mỹ.
Thứ Tư (ngày 29/10/2025): Quyết định chính sách của Ngân hàng Trung ương Canada, số liệu Nhà chờ bán Mỹ, quyết định chính sách FED, quyết định chính sách của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản.
Thứ Năm (ngày 30/10/2025): Quyết định chính sách của ECB.